Bệnh học ngoại ung thư phổi

2012-10-23 01:07 PM

Ung thư phổi là bệnh lý rất hay gặp trong phẫu thuật lồng ngực, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong những ung thư nói chung. Tỷ lệ bệnh ngày  càng tăng do ngày càng có nhiều yếu tố nguy cơ gây ung thư.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Đại cương

Ung thư phổi là bệnh lý rất hay gặp trong phẫu thuật lồng ngực, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong những ung thư nói chung. Tỷ lệ bệnh ngày  càng tăng do ngày càng có nhiều yếu tố nguy cơ gây ung thư. Lần đầu tiên, Laennec đã mô tả bệnh ung thư phổi vào năm 1805. Bệnh hay gặp ở nam (gấp 8 lần nữ). Tuổi thường gặp từ 40-70. Bệnh thường được phát hiện muộn.

Bệnh nguyên

Chưa rõ bệnh nguyên. Tuy nhiên, người ta đã xác định được nhiều yếu tố thuận lợi gây ung thư:

Ung thư nghề nghiệp

Theo Doll: Chất phóng xạ, Nicken, Cromat, Amian và các chất sinh ra do chưng cất hắc ín có thể gây ung thư phổi.

Ung thư phổi và môi trường sống

Gặp nhiều ở thành phố công nghiệp hơn nông thôn.

Trong khí quyển thành phố công nghiệp chứa tỷ lệ cao các chất gây ung thư (3-4 Benzopyren, Hydrocacbua nhiều vòng, chorua vinyl).

Ung thư phổi và thuốc lá

Trong khói thuốc lá có 3-4 benzopyren. Theo các chuyên gia về ung thư tại  khóa họp 1982 Genève thì có 80-90% ung thư phổi có liên quan đến khói thuốc lá (hút thuốc chủ động hay thụ động).

Giải phẫu bệnh

Thuật ngữ chính xác của ung thư phổi là ung thư phế quản hoặc ung thư phế quản-phổi.

Đại thể

Vị trí nguyên thủy của khối u bắt nguồn ở phế quản:

Vùng trung tâm: Phế quản gốc, thùy.

Vùng trung gian: Phế quản bậc 3, 4, 5 của phế quản phân thùy.

Vùng ngoại vi: Các phế quản bậc 6 đến các tiểu phế quản.

U thường là một khối rắn, kích thước #  2-10cm, bề mặt ngoài gồ ghề nhiều múi; mặt cắt màu trắng xám.

U làm hẹp lòng phế quản gây xẹp phổi, giãn phế quản, viêm phổi, áp xe phổi.

U thường được nuôi dưỡng bằng các nhánh của động mạch phế quản.

Vi thể

Theo tổ chức y tế thế giới, ung thư phế quản-phổi được chia thành:

Loại I: Ung thư biểu mô dạng biểu bì.

Loại II: Ung thư kém biệt hóa tế bào nhỏ.

Loại III: Ung thư tuyến.

Loại IV: Ung thư biểu mô tế bào lớn.

Loại V: Ung thư biểu mô hỗn hợp (dạng biểu bì-tuyến).

Phân loại

Phân loại theo TNM:

T (khối u # Tumor): T0, T1 (3cm), T2 (> 3cm  + xẹp thùy phổi), T3 (lan ra ngoài phổi vào trung thất, màng phổi, thành ngực).

N (hạch # Nodule): N0,  N1 (di căn hạch phế quản thùy hoặc cuống phổi), N2  di căn hạch ngoài cuống phổi. Ví dụ trung thất).

M (di căn xa # Metastase): M0, M1 di căn ngoài lồng ngực kể cả hạch.

Có các giai đoạn như sau:

Giai đoạn I:  T1 N0 M0. T1 N1 M0. T2 N0 M0.

Giai  đoạn II: T2 N1 M0.

Giai  đoạn III: T3 bất cứ N, N2 bất cứ T, M M1 bất cứ N, T.

Di căn ung thư

Lan tỏa trực tiếp

Lan tỏa qua các lớp phế quản đến tổ chức xung quanh.

Lan tỏa đến các  phế quản khác.

Lan tỏa theo lớp dưới niêm mạc qua đường bạch huyết  của  phế quản.

Lan tỏa theo lòng  phế quản bằng quá trình sùi thành u nhỏ.

Lan theo niêm mạc.

Lan theo đường bạch huyết

Phổi (P): Dẫn lưu bạch huyết đều đổ vào chuỗi hạch bên phải phế quản rồi  đổ vào ống ngực.

Phổi (T): Dẫn lưu bạch huyết từ thùy dưới đổ sang phải, từ thùy trên (phân thùy 1, 2, 3) đổ sang trái; từ phân  thùy 4, 5 (lưỡi) đổ sang trái và phải.

Lan theo đường máu

Tổ chức ung thư theo tĩnh mạch phổi về nhĩ trái nhĩ trái di căn đến gan, thận, tuyến thượng thận, não và xương.

Triệu chứng lâm sàng

Ung thư phổi là một bệnh toàn thể chứ không chỉ khu trú tại phổi. Khi phát hiện ra bệnh về mặt lâm sàng ở phổi thì đã có một số tế bào ung thư rải rác ở nhiều cơ quan khác nhau. Bệnh bắt đầu một cách âm thầm không có tính chất đặc hiệu. Tùy theo điểm xuất phát (trung tâm hay ngoại vi), hướng phát triển của khối u vào vùng lân cận mà có các dấu hiệu khác nhau.

Triệu chứng phế quản - phổi

 Ho: (phản ứng niêm mạc phế quản) ho khan về đêm sau đó có đờm nhầy, nhầy  mủ, máu.

 Ho ra máu.

 Đau tức ngực.

 Sốt.

Triệu chứng lồng ngực ngoài phổi

Khàn tiếng.

Chèn ép tĩnh mạch chủ trên: Phù áo khoác.

Hội chứng Pancoast-Tobias.

Nuốt nghẹn: Do hạch chèn ép.

Tràn dịch, tràn máu màng phổi.

Triệu chứng không đặc hiệu: sụt cân, gầy yếu.

Triệu chứng di căn ngoài lồng ngực

Liệt, động kinh, rối loạn trí nhớ, nhức đầu, đau, gãy xương, vàng da cổ trướng.

Triệu chứng ngoài lồng ngực không do di căn

Chuyển hóa:

Hội chứng Cushing: Tăng ACTH, tăng hydroxy corticosteroid 17 niệu.

Hội chứng ADH tăng: Ngộ độc nước, nôn mửa.

Hội chứng cận ung thư: Tăng serotonin (phù, ngứa, trụy mạch).

Hội chứng tăng calci máu (ung thư biểu bì): Nôn mữa, đau bụng, chán ăn, rối loạn trí nhớ.

Hội chứng Gonadotrophin: Vú to.

Hội chứng giống Insulin (Insulin-like) gây hạ đường huyết.

Cơ thần kinh:

Viêm nhiều cơ.

Nhược cơ.

 Thoái hóa não bán cấp.

Da, xương:

Hội chứng Pierre marie (ngón tay dùi trống, màng xương dày, loãng xương).

Da: Bệnh A canthosid Nigricans: viêm da, xạm da, nổi mẩn.

Máu:

Thiếu máu, bạch cầu tăng, VSS  giảm.

Cận lâm sàng

X quang ngực (thẳng, nghiêng)

Có khi phải chụp 2 hoặc nhiều lần cách nhau khoảng 2 tuần để theo dõi tiến triển của bóng mờ ở phổi.

Vùng trung tâm:

Rốn phổi rộng hơn bình thường.

Bóng đen đều ở vùng rốn phổi, bờ không đều.

Hình ảnh mặt trời mọc.

Rối loạn thông khí giảm ánh sang, tăng sáng, xẹp phổi.

Liệt cơ hoành: Vòm hoành lên cao, ít di động, di chuyển đảo ngược lúc thở.

Vùng ngoại vi:

Bóng đen đậm độ không đều, bờ không đều, cấu trúc phổi chung quanh u đậm nét hơn bình thường. Nếu u cách rốn phổi một quãng thì thấy có các tia nối với rốn phổi.

Hoại tử ở thành hay trong lòng khối u.

Di căn vào hạch trung thất: phế quản-phổi (rốn phổi vòng ra), cách khí quản và khí-phế quản (bóng phần trên trung thất rộng), ngã ba khí quản (gốc khí quản giãn rộng ra).

Di căn màng phổi (tràn dịch màng phổi), di căn xương sườn (tiêu xương  sườn).

Chụp phế quản cản quang

Có giá trị chẩn đoán ung thư trung tâm: hẹp, nham nhở, cắt cụt.

CT Scan lồng ngực

Có giá trị chẩn đoán vị trí, kích thước, sự xâm lấn của ung thư.

Chụp mạch máu phổi.

Chụp trung thất có bơm hơi

Hạch trung thất, chẩn đoán khác u trung thất.

Chụp thực quản.

Soi phế quản: Rất quan trọng:

U sùi trắng hoặc hồng, bờ không đều, dễ chảy máu, soi phế quản kèm theo sinh thiết xác định chính xác bản chất của khối u.

Sinh thiết

Sinh thiết hạch trên xương đòn.

Sinh thiết Daniel.

Trong các trường hợp không sinh thiết được có thể chọc u phổi làm tế bào học để chẩn đoán.

Chẩn đoán xác định

Tiền sử, bệnh sử.

Khám thực thể.

Xét nghiệm  máu: VSS tăng.

Phân tích đặc điểm bóng mờ khối u trên X quang, hình ảnh CT Scan lồng ngực.

Soi phế quản, sinh thiết u, hạch.

Mở ngực thăm dò.

Chẩn đoán phân biệt

Bệnh viêm nhiễm ở phổi: Viêm phổi, giãn phế quản, lao, áp xe.

Khối u trung thất.

U di căn từ nơi khác.

U lành tính.

Nguyên tắc điều trị

Phẫu thuật, xạ trị, hóa trị và miễn dịch liệu pháp, phẫu thuật chiếm hàng đầu.

Phẫu thuật

Chống chỉ định

Giai đoạn phát triển ung thư: Lan tỏa ngoài  phổi: thành ngực, trung thất, liệt dây hoành, dây quặt ngược, thanh khí quản, màng phổi.

Căn cứ vào loại tế bào: Ung thư biểu bì ung thư tế bào nhỏ (xạ trị, hóa chất).

Căn cứ vào tình trạng bệnh nhân: Chức năng phổi kém, các bệnh lý tim mạch kèm theo, già yếu suy kiệt.

Các phương pháp mổ

Cắt bỏ triệt để: Cắt rộng ngoài, lấy hết hạch bạch huyết trung thất phụ thuộc (cắt phổi, cắt thùy phổi lấy hạch).

Cắt bỏ hạn chế: Cắt bỏ một thùy và kèm theo những hạch bạch huyết nghi ngờ.

Cắt bỏ tiết kiệm: Cắt một phân thùy hoặc một thùy + cắt một phần phế quản rồi khâu nối lại hai đầu với nhau.

Cắt bỏ tạm thời: Chỉ lấy thương tổn chính

Xạ trị liệu

Khi không có chỉ định, hoặc khi cắt phổi mà còn hạch di căn ở trung thất.

Hóa chất

Nitrogen Mustard.

Cytoxan.

Miễn dịch

BCG, levamisol, LH1.

Tiên lượng

Sống trên 5 năm: 10% nếu mổ cắt bỏ được u và hạch.

Di căn bạch huyết, máu: Sống dưới 6 tháng (nhất là di căn hạch trung thất).

Bài viết cùng chuyên mục

Thuốc điều trị tại chỗ vết bỏng

Khám vết bỏng hàng ngày là công việc thường xuyên của bác sỹ điều trị bỏng để bổ xung chẩn đoán độ sâu của bỏng và chỉ định thuốc điều trị tại chỗ và toàn thân phù hợp.

Bệnh học ngoại gẫy cổ xương đùi

Gãy cổ xương  đùi là các trường hợp gãy xương mà đường gãy là ở giữa chỏm và khối mấu chuyển. Thường gặp đối với người già, cho dù là một chấn thương nhẹ (như té đập mông). Rất hiếm gặp ở người trẻ và trẻ em.

Bỏng chiến tranh

Khi cháy tạo ra sức nóng cao, cháy lâu, có chất khi cháy tạo ra nhiều chất độc cho cơ thể, có chất gây bỏng đồng thời là chất độc cho cơ thể.

Bệnh học ngoại u não

U não là một từ ngữ được các thầy thuốc lâm sàng gọi tên có tính cách quy  ước để chỉ các u trong sọ vì thực sự u trong mô não chỉ chiếm trên dưới 50% u trong sọ.

Bệnh học ngoại khoa bỏng

Bỏng là một chấn thương gặp trong cả thời bình và thời chiến. Trong chiến tranh tỷ lệ bỏng chiếm từ 3-10% tổng số người bị thương. Ở Mỹ một năm theo báo cáo có hơn 2 triệu người bị bỏng, trong đó khoảng 100.000 người phải nhập viện

Bệnh học ngoại viêm xương

Viêm xương có thể tự nhiên, nhưng chấn thương đóng vai trò nào đó của sự khu trú tắc mạch xương trên một cơ quan bị nhiễm khuẩn.

Bệnh học ngoại sỏi hệ tiết niệu

Sỏi hệ tiết niệu bao gồm sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang và niệu đạo, sỏi thận, niệu quản và bàng quang hay gặp hơn: Sỏi thận là một bệnh phổ biến trên thế giới. Việt Nam nằm trong “vành đai” mắc sỏi thận khá cao.

Dấu hiệu triệu chứng lâm sàng sốc bỏng

Do thoát dịch, huyết tương từ lòng mạch ra khoảng gian bào, Nguyên nhân do tổn thương mao mạch, rối loạn vi tuần hoàn gây giãn mạch, tăng tính thấm

Bệnh học ngoại chấn thương niệu đạo

Khi dương vật mềm, niệu đạo dài khoảng 16cm, trong đó, đoạn tiền liệt tuyến dài khoảng 2,5-3cm, đoạn màng khoảng 1,2cm và đoạn xốp khoảng 12cm.

Bệnh học ngoại xơ vữa động mạch

Tổn thương khu trú ở lớp nội mạc, lớp nội mạc dày lên vừa phải. Các tế bào đặc trưng có chứa các tổ chức mỡ (tế bào bọt). Lớp áo giữa và áo ngoài bình thường.

Bệnh học ngoại khoa ung thư trực tràng

Ung thư trực tràng là một bệnh thường gặp ở Việt Nam cũng như trên thế  giới. Khoảng 8000 trường hợp ung thư trực tràng ở Pháp mỗi   năm.  Tỷ  lệ nam/nữ là 1,5.

Bệnh học ngoại khoa sỏi ống mật chủ

Khi tắc mật, dịch mật không xuống tá tràng mà ứ đọng trong gan. Sắc tố mật, muối mật vào máu, bilirubin máu tăng cao, do sắc tố mật có màu vàng nên da, giác mạc mắt có màu vàng.

Bệnh học ngoại phình đại tràng bẩm sinh (Hirschsprung)

Bệnh Hirschsprung có thể có biểu hiện lâm sàng rất sớm ở trẻ sơ sinh bằng bệnh cảnh tắc ruột cấp tính dễ đưa đến tử vong nếu không can thiệp kịp thời hoặc có biểu hiện bán cấp tính và mạn tính ở trẻ nhũ nhi.

Bệnh học ngoại nhiễm khuẩn tiết niệu

Nhiễm khuẩn tiết niệu không đặc hiệu (Non- specific infection) là loại nhiễm khuẩn thường gặp của đường tiết niệu do các loại trực khuẩn gram (-) hoặc cầu khuẩn gram (+) gây nên.

Bệnh học ngoại ung thư thận

Ung thư thận chiếm 90% các loại u ác tính nguyên phát ở thận. Bệnh thường xuất hiện ở người lớn trên 40 tuổi, với tỉ lệ nam gấp 2 lần so với nữ giới. Ung  thư thận chiếm 1-2% toàn bộ các loại ung thư ở người lớn.

Bệnh học ngoại phình động mạch ngoại biên

Phình động mạch ngoại biên thường ít hơn phình động mạch chủ. Có nhiều nguyên nhân gây phình động mạch ngoại biên, trong đó nguyên nhân do xơ vữa động mạch thường gặp nhất.

Xử trí thời kỳ đầu vết thương bỏng

Ngâm vùng bỏng vào nước lạnh (16-200C) trong vòng 20-30 phút. Đặc biệt có hiệu quả trong 20 phút đầu, nếu để sau 30 phút mới ngâm nước lạnh thì không còn giá trị nữa.

Hội chứng Dumping trong phẫu thuật dạ dày

Hội chứng Dumping là một nhóm các triệu chứng có thể xảy ra nếu bn có phẫu thuật để cắt bỏ toàn bộ hoặc một phần của dạ dày, hoặc nếu dạ dày của bệnh nhân đã được phẫu thuật nối tắt để giúp giảm cân.

Bệnh học ngoại trật khớp háng

Ở người lớn trật khớp háng do chấn thương mạnh xảy ra do một lực tác động gián tiếp vào đầu dưới xương đùi, và vùng gối khi đùi gấp, xoay trong và khép, khớp gối ở tư thế gấp.

Bệnh học ngoại gẫy xương cẳng chân

Gãy xương cẳng chân là các trường hợp gãy thân xương chày từ dưới hai lồi cầu đến trên mắt cá trong, có hoặc không kèm gãy xương mác từ cổ tới trên mắt cá ngoài.

Bệnh học ngoại khoa teo thực quản

Bệnh teo thực quản là hậu quả của rối loạn trong quá trình tạo phôi giữa tuần thứ 4 và tuần thứ 6, điều này giải thích cho hiện tượng teo thực quản thường kèm theo nhiều dị tật phối hợp khác.

Bệnh học ngoại khoa thoát vị bẹn

Thoát vị là tình trạng các tạng bên trong ổ phúc mạc đi ra ngoài ổ phúc mạc trong một túi thừa phúc mạc gọi là “túi thoát vị”, qua các điểm yếu tự nhiên của thành bụng. Các điểm yếu này có thể là bẩm sinh hay mắc phải.

Bệnh học ngoại khoa chấn thương bụng kín

Chấn thương bụng kín hay gọi là chạm thương bụng bao gồm cả những tổn  thương về bụng, tổn thương có thể chỉ ở ngoài thành bụng nhưng có thể tổn thương các tạng đặc trong ổ bụng (như gan, lách, tụy...).

Bệnh học ngoại u trung thất

U trung thất là một khối u có thể gặp ở bất kỳ vị trí nào của trung thất. Bao  gồm khối u nguyên phát, thứ phát; lành ác. Bệnh lý hay gặp nhất là u tuyến ức, u thần kinh, có thể gặp ở mọi lứa tuổi, mọi giới.

Bệnh học ngoại khoa xuất huyết tiêu hóa

Xuất huyết tiêu hoá được định nghĩa là sự đào thải qua đường miệng và hay là qua đường đường hậu môn một số lượng máu từ các thương tổn của  đường tiêu hoá.