- Trang chủ
- Sách y học
- Triệu chứng học nội khoa
- Khàn tiếng: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Khàn tiếng: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Khàn tiếng thường nhất là triệu chứng của viêm dây thanh do virus, nhưng đây cũng có thể là một triệu chứng quan trọng của bệnh lý thần kinh. Khàn tiếng nên được giải thích trong bệnh cảnh lâm sàng toàn diện.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Mô tả
Khàn tiếng gây ra bởi sự co không đồng bộ và mất cân đối giữa hai dây thanh.
Nguyên nhân
Thường gặp
Viêm dây thanh do virus.
Do thủ thuật y tế (ví dụ: đặt nội khí quản kéo dài hoặc chấn thương do đặt nội khí quản).
Liệt dây thần kinh thanh quản quặt ngược (ví dụ: chấn thương do đặt nội khí quản).
Ít gặp
Polyp dây thanh.
Liệt dây thần kinh thanh quản quặt ngược (ví dụ: u Pancoast, phình động mạch chủ ngực).
Hội chứng hành não bên (hay hội chứng Wallenberg).
Hôi chứng Ortner.

Hình. Giải phẫu thần kinh lang thang
Cơ chế
Khàn tiếng gây ra bởi:
Liệt dây thần kinh thanh quản quặt ngược.
Tổn thường nhân mơ hồ (trong hội chứng hành não bên).
Tổn thương tại dây thanh âm.
Tổn thương khớp nhẫn phễu.
Tổn thương neuron vận động trên hai bên (hiếm).
Liệt dây thần kinh thanh quản quặt ngược
Thần kinh thanh quản quặt ngược, một nhánh của thần kinh lang thang, đi một đoạn dài phức tạp sau khi ra khỏi hành não, qua đoạn cổ và khoang ngực,vòng dưới cung động mạch chủ, phía sau nhĩ trái, và sau đó đi lên dọc theo khí quản, đến chi phối cho các cơ dây thanh. Thần kinh này rất nhạy với nhiều dạng tổn thương khác nhau dọc đường đi. Các nguyên nhân bao gồm: u Pancoast, lớn nhĩ trái (hội chứng Ortner), phình động mạch chủ ngực, tổn thương sau cắt tuyến giáp.
Tổn thương nhân mơ hồ (hội chứng hành tủy bên)
Tổn thương nhân mơ hồ ở hành não có thể gây ra khàn tiếng; gặp trong hội chứng hành não bên do nhồi máu động mạch tiểu não sau dưới (PICA).
Tổn thương tại dây thanh âm
Sưng nề dây thanh hoặc một tổn thương choán chỗ tại dây thanh làm hai dây rung không đều do bị mất cân xứng. Nguyên nhân thường gặp nhất là viêm dây thanh do virus. Các nguyên nhân khác gồm: polyp dây thanh, khối u (ví dụ: carcinoma tế bào lát) và các thương tổn do thủ thuật y tế (ví dụ: đặt nội khí quản).
Tổn thương khớp nhẫn phễu
Viêm khớp dạng thấp, ảnh hưởng đến khớp nhẫn phễu (thuộc loại khớp hoạt dịch) có thể làm mất sự phối hợp nhịp nhàng giữa hai dây thanh, gây ra khàn tiếng.
Tổn thương neron vận động trên hai bên (hiếm gặp)
Các tổn thương ở neuron vận động trên hai bên có thể gây khàn tiếng, mặc dù điển hình có sự giảm nghiêm trọng các chức năng vận động. Tổn thương neuron vận động trên một bên thường không gây khàn tiếng bởi nhân mơ hồ nhận các nhánh từ cả hai vỏ bán cầu.
Ý nghĩa
Khàn tiếng thường nhất là triệu chứng của viêm dây thanh do virus, nhưng đây cũng có thể là một triệu chứng quan trọng của bệnh lý thần kinh. Khàn tiếng nên được giải thích trong bệnh cảnh lâm sàng toàn diện. Không nghĩ đến nguyên nhân do virus và nên đi tìm các nguyên nhân khác khi khàn tiếng đơn thuần kéo dài trên 2 tuần.
Bài viết cùng chuyên mục
Hội chứng suy tim
Suy tim là trạng thái bệnh lý trong đó cơ tim giảm khả năng cung cấp máu theo nhu cầu cơ thể. Bình thường tim có một khả năng dự trữ, có thể đáp ứng nhu cầu của cơ thể trong từng hoàn cảnh khác nhau.
Phát hiện tổn thương bệnh học hệ tiết niệu
Có thể biết được những tổn thương giải phẫu bệnh học đó qua những biểu hiện gián tiếp bằng xét nghiệm nước tiểu hoặc qua những biểu hiện trực tiếp bằng sinh thiết thận.
Ghi điện cơ và điện thần kinh
Khi thời gian cần thiết để gây co cơ cho những cường độ dòng điện khác nhau được biểu hiện bằng đồ thị ta sẽ có đồ thị cường độ thời gian kích thích
Thăm khám cận lâm sàng tim
Bằng phương pháp chiếu thông thường, các tia x quang toả từ bóng ra nên khi chiếu hình ảnh của tim có kích thước to hơn kích thước thực sự.
Mất cảm giác: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Các phương thức hoặc hình thức của mất cảm giác và phân vùng giải phẫu là quan trọng khi xem xét các nguyên nhân của mất cảm giác. Mất cảm giác thể hiện qua việc ảnh hưởng tới các loại cảm giác và các phân vùng giải phẫu.
Biến đổi hình thái sóng: sóng x xuống lõm sâu
Trong chèn ép tim cấp, sự co bóp của các buồng tim dẫn tới tăng áp lực nhĩ phải. Sự gia tăng áp lực này cản trở sự lưu thông của máu tĩnh mạch từ tĩnh mạch cảnh về tâm nhĩ phải trong kì tâm thu.
Ỉa chảy cấp, mạn tính
Ỉa chảy là một triệu chứng do rất nhiều nguyên nhân phức tạp gây nên, muốn nắm được các nguyên nhân đó, cần phải biết sự hoạt động bình thường của quá trình tiêu hoá.
Các tiếng bệnh lý khi nghe phổi
Bình thường khi hô hấp ta chỉ nghe tiếng thở thanh khí quản và tiếng rì rào phế nang, Trong nhiều trường hợp bệnh lý, những thay đổi về cơ thể bệnh ở khí đạo.
Hội chứng trung thất
Tĩnh mạch bàng hệ phát triển, các lưới tĩnh mạch nhỏ ở dưới da bình thường không nhìn thấy hoặc không có, bây giờ nở to ra, ngoằn ngoèo, đỏ hay tím.
Dấu hiệu Chvostek: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Có ít giá trị khi khám thấy dấu hiệu Chvostek dương tính. Tuy nhiên, nó vẫn được chấp nhận là một dấu hiệu trong hạ canxi máu và tăng kích thích thần kinh cơ.
Hội chứng gai đen (AN): dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Tính phổ biến của hội chứng không rõ ràng và khác nhau rõ rệt giữa các quần thể. Hội chứng gai đen là dấu hiệu có giá trị của tình trạng tăng insulin và kháng insulin ở người lớn và trẻ em.
Xơ cứng: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Xơ cứng có thể là kết quả của sự thay đổi điều hòa ngoại tháp của các neuron vận động trên tủy và sự thay đổi hoạt động các neuron vận động tủy để đáp ứng các kích thích ngoại biên trong các phản xạ căng giãn.
Thất ngôn Broca (thất ngôn diễn đạt): dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Thất ngôn Broca hoặc thất ngôn diễn đạt là dấu hiệu định khu của vỏ não ưu thế. Mất ngôn ngữ cấp tính luôn chú trọng dấu hiệu đột quỵ cho đến khi có bằng chứng ngược lại.
Xuất huyết tiêu hóa
Xuất huyết tiêu hoá là hiện tượng máu thoát ra khỏi lòng mạch chảy vào ống tiêu hoá, biểu hiện lâm sàng là nôn ra máu đi ngoài ra máu.
Phương pháp khám mạch máu
Mạch máu có tầm quan trọng lớn đối với hệ tuần hoàn và toàn thân, Mạch máu gồm động mạch, tĩnh mạch, mao mạch, bạch mạch
Chẩn đoán hạch to
Thường mọi bệnh lý của hệ thống tổ chức tân đều biểu hiện trên lầm sàng bằng những hạch to. Do đó chẩn đoán hạch to cho ta một ý niệm rõ ràng về những bệnh của hệ thống này.
Các phương pháp khám cận lâm sàng gan mật
Phương pháp lâm sàng bằng sờ, gõ chỉ cho ta nhận định được tình trạng của gan khi nó to, nhô ra khỏi bờ sườn, ngay cả trong trường hợp đấy, chúng ta cũng chỉ sờ.
Rối loạn huyết áp động mạch
Máu chảy trong mạch luôn luôn ma sát vào thành mạch, huyết áp động mạch, nhất là huyết áp tối thiểu chịu ảnh hưởng của sức cản thành mạch này rất nhiều.
Khám hệ vận động, tiền đình, tiểu não
Khám vận động bao gồm Nhận xét tư thế và vận động của bệnh nhân, khám sức cơ, khám trương lực cơ và nhận xét về các động tác không chủ ý
Hội chứng tăng Glucose (đường) máu
Khi thấy Glucoza máu luôn luôn tăng cao quá 140mg phần trăm có thể chắc chắn là bị đái tháo đường, Xét nghiệm glucoza máu niệu còn giúp ta theo dõi đìều trị.
Phản xạ da gan tay-cằm: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Cơ chế tái xuất hiện của phản xạ da gan tay-cằm chưa được biết rõ. Phản xạ dường như được kiểm soát bởi các vùng vỏ não vận động không phải nguyên phát, có tác dụng kiểm soát ức chế phản xạ tủy.
Rối loạn Glucose (đường) máu
Tế bào trong đảo Langerhans của tụy tạng tiết ra insulin là chất làm hạ glucoza máu là chủ yếu, Glucoza tiết ra từ tế bào trong đảo Langerhans cũng có tác dụng.
Hội chứng Wallenberg (hội chứng tủy bên): dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Nhồi máu vùng động mạch tiểu não sau dưới (PICA) có thể gây nên rối loạn chức năng các nhân ở thân não thuộc cột tủy bên. Nguyên nhân do nhồi máu vùng động mạch tiểu não sau dưới (PICA) hoặc suy động mạch đốt sống.
Hội chứng Gerstmann: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Hội chứng Gertsmann tiêu biểu liên quan đến tổn thương ở hồi góc của thùy đỉnh. Mỗi triệu chứng riêng lẻ trong hội chứng Gertsmann ít có giá trị định khu và có thể xảy ra trong nhiều tổn thương khác nhau.
Chẩn đoán túi mật to
Để khám túi mật, dùng các phương pháp lâm sàng mà chủ yếu là sờ và trong những trường hợp cần thiết sử dụng phối hợp các phương pháp cận lâm sàng.
