- Trang chủ
- Sách y học
- Thực hành chẩn đoán và điều trị
- Thực hành chẩn đoán và điều trị ít ham muốn tình dục
Thực hành chẩn đoán và điều trị ít ham muốn tình dục
Ít ham muốn tình dục có thể là dấu hiệu của một sức khỏe không tốt hoặc đang suy nhược, có thể đang có một hoặc nhiều bệnh lý tiềm ẩn.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Là tình trạng bất thường xuất hiện ở cả 2 giới, nhưng thường gặp ở phụ nữ nhiều hơn. Người bệnh mất đi cảm giác hưng phấn thông thường và không có hoặc có rất ít ham muốn tình dục. Ít ham muốn tình dục thường xuất hiện trong một thời gian ngắn vào một thời điểm nào đó trong đời người, và điều đó là bình thường, không có gì đáng lo ngại. Tuy nhiên, nếu tình trạng này kéo dài, cần phải xem xét đến nguyên nhân gây ra để điều trị, vì nếu không sẽ có thể ảnh hưởng đến cuộc sống chung trong gia đình.
Nguyên nhân
Ít ham muốn tình dục có thể là một dạng rối loạn tình dục, thường xuất hiện ở tuổi trẻ và được cải thiện qua thời gian, thường do một trong 2 người hoặc cả hai không có đủ những kinh nghiệm về tình dục vào giai đoạn ban đầu.
Ít ham muốn tình dục có thể gây ra do người bệnh có những khó khăn không vượt qua được trong hoạt động tình dục, và điều đó tạo ra tâm lý lo lắng, căng thẳng, ức chế sự ham muốn tình dục.
Ít ham muốn tình dục cũng có thể gây ra do ấn tượng mạnh của những khó khăn trong lần giao hợp đầu tiên, hoặc do bị đau, hoặc không nhận được khoái cảm, hoặc gặp phải những trở ngại nhất định nào đó từ bạn tình. Thường thì điều này tạo ra một tâm lý e dè, sợ sệt dẫn đến ức chế sự ham muốn tình dục.
Ít ham muốn tình dục còn có thể là kết quả của sự giáo dục tính dục quá nghiêm khắc và không đầy đủ, tạo ra một thái độ tình dục sai lệch, cứng nhắc dẫn đến ức chế sự ham muốn tình dục tự nhiên.
Ít ham muốn tình dục có thể là dấu hiệu của một sức khỏe không tốt hoặc đang suy nhược, có thể đang có một hoặc nhiều bệnh lý tiềm ẩn.
Chẩn đoán
Không cần thiết phải chẩn đoán điều trị nếu tình trạng chỉ xuất hiện lần đầu tiên và không kéo dài quá lâu. Bệnh nhân nên được trấn an rằng những trường hợp như vậy là bình thường và có thể xảy ra với bất cứ ai trong một quãng thời gian ngắn.
Thăm khám thực thể thường không cần thiết, trừ khi có dấu hiệu nghi ngờ về rối loạn nội tiết tố hoặc các bệnh ở cơ quan sinh dục.
Tạo môi trường trao đổi cởi mở với bệnh nhân, tạo điều kiện để bệnh nhân dễ dàng chia sẻ tất cả những cảm nhận, suy nghĩ và những khó khăn trong hoạt động tình dục. Thông qua đó để tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh.
Nếu cần thiết, có thể tiếp xúc với cả 2 bên để có đủ thông tin về những vấn đề trở ngại trong hoạt động tình dục của họ.
Một số loại thuốc có tác dụng phụ làm giảm ham muốn tình dục, chẳng hạn như thuốc chống trầm cảm, thuốc an thần, thuốc hạ huyết áp, thuốc ngừa thai... Uống rượu quá nhiều cũng gây ra ít ham muốn tình dục.
Điều trị
Thường không phải dùng đến thuốc, trừ khi có sự chẩn đoán chính xác về những bệnh liên quan.
Hướng dẫn cho bệnh nhân về những hiểu biết cơ bản trong hoạt động tình dục, loại bỏ những nhận thức sai lệch và cố gắng giúp họ quên đi những ấn tượng không tốt trước đây.
Vai trò hỗ trợ lẫn nhau của cả hai người là rất quan trọng. Cần có sự trao đổi thoải mái giữa đôi bên để tránh những ẩn ức không bộc lộ. Mỗi người nên hiểu được những gì mà bạn tình của mình thích hoặc không thích, và sự trao đổi về chủ đề này giữa đôi bên là cần thiết, hoàn toàn không nên tránh né.
Yếu tố tâm lý đóng vai trò quan trọng. Vì thế, hai người cần phải quan tâm đến nhau nhiều hơn trong cuộc sống, ngay cả những việc nhỏ nhặt trong sinh hoạt thường ngày. Điều đó tạo ra sự gắn bó thân thiết về tình cảm và tăng thêm sức cuốn hút lẫn nhau.
Nếu có liên quan đến vấn đề sức khỏe, cần cải thiện sức khỏe hoặc điều trị bất cứ bệnh tật nào gây suy yếu.
Bài viết cùng chuyên mục
Thực hành chẩn đoán và điều trị mắt khô
Xét nghiệm Schirmer được thực hiện bằng cách dùng một loại giấy thấm đặc biệt đặt ở rìa dưới của mí mắt. Quan sát độ thấm của giấy có thể giúp xác định mức độ khô mắt.
Thực hành chẩn đoán và điều trị co giật ở trẻ em
Có thể tham khảo ý kiến bác sĩ để ngừng dùng thuốc chống co giật nếu trẻ không còn co giật trong vòng 2 – 3 năm.
Sưng hạch bạch huyết vùng cổ
Nếu không thể chẩn đoán phân biệt, tiếp tục theo dõi trong khoảng từ 4 đến 6 tuần để có thêm các triệu chứng giúp chẩn đoán phân biệt.
Thực hành chẩn đoán và điều trị viêm gan B
Thời gian ủ bệnh thường kéo dài từ 1 – 4 tháng hoặc lâu hơn, tùy thuộc vào số lượng virus bị nhiễm vào cơ thể. Nói chung, số lượng virus càng lớn thì thời gian ủ bệnh càng ngắn.
Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
Để duy trì nguồn sữa đầy đủ cho trẻ, người mẹ cần một chế độ dinh dưỡng cân đối và phải uống thật nhiều nước.
Thực hành chẩn đoán và điều trị Parkinson
Bệnh Parkinson tiến triển chậm. Các triệu chứng ban đầu mờ nhạt, ít được chú ý, thường chỉ run nhẹ ở một bàn tay, cánh tay hay một bên chân.
Thực hành chẩn đoán và điều trị rong kinh
Thăm khám vùng chậu để phát hiện các nguyên nhân bệnh lý, chẳng hạn như u buồng trứng hay u tử cung... Có thể siêu âm vùng chậu nếu cần.
Thực hành chẩn đoán và điều trị không đạt cực khoái
Khoảng 30 – 50% phụ nữ có một quãng thời gian nhất định nào đó trong đời khi mà việc giao hợp rất khó đạt đến cực khoái.
Thực hành chẩn đoán và điều trị đau bụng kinh
Các chất ức chế prostaglandin synthetase, chẳng hạn như acid mefenamic 250mg – 500mg, mỗi ngày 3 lần, hoặc naproxen 250mg – 500mg mỗi ngày 2 lần có thể giúp giảm nhẹ các triệu chứng.
Tránh thai bằng xuất tinh ngoài âm đạo
Do khả năng sống sót của tinh trùng khi vào được cơ thể người phụ nữ có thể kéo dài từ 4 đến 6 ngày, nên những sơ sót này tuy có tỷ lệ rất thấp nhưng vẫn có thể dẫn đến thụ thai.
Sử dụng màng ngăn âm đạo tránh thai
Trong trường hợp có giao hợp tiếp trong vòng 6 giờ, không cần lấy màng ngăn ra nhưng phải cho thêm thuốc diệt tinh trùng vào (ít nhất là 2 giờ trước khi giao hợp).
Thực hành chẩn đoán và điều trị chốc
Chốc phát triển ở vùng da quanh miệng thường rất dễ nhầm với các mụn rộp môi gây ra do virus Herpes simplex. Tuy nhiên, mụn rộp môi thường nhỏ hơn so với chốc.
Thực hành chẩn đoán và điều trị bệnh ở cổ tử cung
Nếu có kèm theo các triệu chứng như đau vùng chậu, giao hợp đau, có chất tiết ra từ âm đạo, lấy dụng cụ tránh thai đặt trong tử cung ra.
Thực hành chẩn đoán và điều trị lạc nội mạc tử cung
Những mảnh nội mạc tử cung lạc chỗ vẫn đáp ứng với chu kỳ kinh nguyệt giống như nội mạc ở trong tử cung, nghĩa là vẫn chảy máu theo chu kỳ kinh nguyệt.
Thực hành chẩn đoán và điều trị vảy nến
Bệnh thường xuất hiện ở những người trong cùng một gia đình. Thống kê cho biết nếu cha hoặc mẹ đã bị bệnh vảy nến thì con cái có khoảng 25% nguy cơ sẽ mắc căn bệnh này.
Thực hành chẩn đoán và điều trị mụn cóc
Liệu pháp lạnh với nitơ lỏng có thể được dùng cho những mụn cóc không đáp ứng với thuốc bôi. Phương pháp điều trị này gây đau nhiều nên không hợp với trẻ em.
Thực hành chẩn đoán và điều trị ban đỏ nhiễm khuẩn
Hai gò má nổi lên những vùng đỏ, tương phản với một vùng tái nhợt xung quanh miệng. Vì thế, bệnh này còn được gọi là bệnh đỏ má (slapped cheek disease).
Thực hành chẩn đoán và điều trị tiêu chảy
Độc tố trong thức ăn thường là do các loại vi khuẩn sinh ra, chẳng hạn như độc tố của các vi khuẩn Staphylococcus aureus, Clostridium, Salmonella, Campylobacter jejuni.
Thực hành chẩn đoán và điều trị rối loạn tiêu hóa
Chẩn đoán chủ yếu dựa vào các triệu chứng và tìm hiểu về nếp sinh hoạt, chế độ ăn uống của bệnh nhân để phát hiện và xác định nguyên nhân.
Thực hành chẩn đoán và điều trị tai biến mạch não
Nghẽn mạch, hay thuyên tắc mạch, là tình trạng tắc nghẽn do một khối (thường là cục máu đông) trong động mạch não.
Thực hành chẩn đoán và điều trị tinh hồng nhiệt
Bệnh tinh hồng nhiệt là bệnh truyền nhiễm thường gặp ở trẻ em, còn được gọi là bệnh ban đỏ. Bệnh thường gặp nhất ở độ tuổi từ 2 – 10 tuổi. Đặc trưng của bệnh là những vùng đỏ trên da.
Thực hành chẩn đoán và điều trị bệnh sởi
Trẻ em dưới 8 tháng tuổi rất hiếm khi mắc bệnh sởi, nhờ có kháng thể nhận được từ sữa mẹ. Vì thế, nuôi con bằng sữa mẹ cũng là một cách bảo vệ trẻ chống lại bệnh này.
Thực hành chẩn đoán và điều trị bệnh chóng mặt
Viêm mê đạo do các bệnh nhiễm trùng không được điều trị triệt để sẽ có nhiều nguy cơ tái phát. Do đó, cần điều trị tốt các bệnh nhiễm trùng, viêm mê đạo sẽ tự khỏi.
Thực hành chẩn đoán và điều trị ù tai
Các bệnh ở tai như viêm mê đạo, bệnh Ménière, viêm tai giữa, xơ hóa tai, nhiễm độc tai, tắc nghẽn ống tai ngoài do nhiều ráy tai... đều có thể kèm theo hiện tượng ù tai.
Thực hành chẩn đoán và điều trị đau họng
Dựa vào thời gian của các triệu chứng. Hầu hết các trường hợp đau họng do nhiễm cấp tính liên cầu khuẩn và virus đều sẽ giảm trong vòng 5 đến 7 ngày.
