Đặt catheter động mạch

2012-11-07 11:07 AM
Phải thay đường truyền động mạch cánh tay và động mạch đùi ngay khi có thể đặt được ở động mạch quay hoăc mu chân.

Chỉ định

Theo dõi huyết áp động mạch.

Lấy máu động mạch xét nghiệm nhiều lần.

Qui trình tiến hành

Rút bỏ và thay thế các đường truyền được đặt trong môi trường không vô trùng càng sớm càng tốt.

Phải thay đường truyền động mạch cánh tay và động mạch đùi ngay khi có thể đặt được ở động mạch quay hoăc mu chân.

Kỹ thuật vô trùng

Rửa tay + đeo găng.

Sát trùng da.

Gây tê tại chỗ với bệnh nhân tỉnh.

Canun

Arrow(kỹ thuật Seldinger):Bộ kít cho động mạch quay hoặc bẹn.

20G Jelco.

Catheter tĩnh mạch trung tâm 1nòng cỡ 18G cho đường truyền động mạch bẹn.

Vị trí

(theo thứ tự ưu tiên): Đ/m quay, mu chân, đ/m trụ, cánh tay, bẹn.

Động mạch bẹn có thể là 1 lựa chọn chính ở bệnh nhân sốc.

Băng

Loại opste bít, có cố định.

Không có thời gian tuyệt đối để thay hoặc rút 1 đường truyền động mạch.

Catheter động mạch được thay chỉ trong những tình huống sau:

Có thiếu máu máu ở vùng đ/m đó nuôi dưỡng.

Có trục trặc về cơ học(dạng sóng yếu đi,không thể hút được máu)

Có nhiễm trùng tại chỗ hoặc toàn thân không thể giải thích được (chẳng hạn các đường truyền trung tâm)

Việc đo huyết áp xâm nhập hoặc lấy máu thường xuyên không còn cần thiết.

Đo huyết áp

Bộ phận chuyển đổi cần được đặt về 0 đối với đường nách giữa.

Duy trì sự thông thoáng của lòng catheter:

Liên tục bơm dung dịch muối pha heparine (1u/ml) có áp lực (Intraflowâ)với tốc độ 3ml/h.

Biến chứng

Nhiễm trùng.

Huyết khối.

Có thiếu máu ở vùng được đ/m đó nuôi dưỡng.

Tổn thương mạch máu/phình mạch.

HITS (thứ phát sau truyền heparin).

Bài xem nhiều nhất

Đặt nội khí quản

Đặt nội khí quản về lý tưởng là không nên là 1 thủ thuật của duy nhất 1 người thực hiện, cần phải luôn luôn có người hỗ trợ thành thạo.

Nguyên tắc sử dụng thuốc tim mạch trong cấp cứu hồi sức

Có một sự khác biệt lớn về đáp ứng với thuốc giữa các bệnh nhân. Lý do đầu tiên có lẽ do sự biến đổi của thụ thể giao cảm trong các bệnh lý cấp tính. Hơn nữa khi dùng kéo dài có hiện tượng trơ của các thụ thể giao cảm.

Mở khí quản cho bệnh nhân nặng

Bệnh nhân phải được lựa chọn mở khí quản phẫu thuật với sự giải thích của khoa phòng (kể cả nội khoa hay ngoại khoa). Đây là sự tôn trọng cơ bản với bệnh nhân.

Dẫn lưu khoang màng phổi

Với bệnh nhân có thở máy, cần kẹp sonde trong trên 4h và rút nếu không có dấu hiệu nào ở trên, Đặt dẫn lưu bằng phẫu thuật, trong mổ là công việc của phẫu thuật viên.

Cathter tĩnh mạch trung tâm

Các catheter tĩnh mạch trung tâm 3 nòng không thích hợp với việc điều chỉnh thể tích cấp (cân nhắc một catheter động mạch phổi).

Hướng dẫn xử trí về rối loạn điện giải trong cấp cứu hồi sức

Hầu hết các rối loạn điện giải ở các bệnh nhân của ICU đều liên quan tới sự thay đổi trong phân bố và nồng độ của các ion chủ yếu của dịc nội và ngoại bào.

Phác đồ xử trí khi đặt nội khí quản thất bại

Phác đồ xử trí khi đặt nội khí quản thất bại tại khoa cấp cứu hồi sức

Nguyên tắc nuôi dưỡng bệnh nhân trong cấp cứu hồi sức

Việc ruột hoạt động sớm sẽ làm giảm nguy cơ teo niêm mạc, nguyên nhân của thẩm lậu vi khuẩn, do đó làm giảm tỷ lệ mắc và thời gian của nhiễm khuẩn huyết.

Nguyên tắc sử dụng máu trong cấp cứu hồi sức

Phản ứng chéo đầy đủ mất 20 phút, nếu khẩn cấp, không bao gồm thời gian vận chuyển máu, Cần được làm ngay bệnh nhân đang được hồi sức dịch tinh thể và dịch keo.

Nguyên tắc sử dụng thuốc an thần giảm đau giãn cơ trong cấp cứu hồi sức

PCA hoặc giảm đau ngoài màng cứng được chỉ định cho những bệnh nhân tỉnh. Thông báo cho đơn vị giảm đau biết những bệnh nhân này.