- Trang chủ
- Chẩn đoán & điều trị
- Chẩn đoán và điều trị bệnh hô hấp
- Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng
Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng
Làm sạch các thâm nhiễm phổi ở bệnh nhân viêm phổi mắc phải ở cộng đồng phải mất 6 tuần hay lâu hơn: ở người trẻ thời gian này nhanh hơn hoặc đó là người không hút thuốc hay chỉ tổn thương một thùy.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Hội lồng ngực Hòa Kỳ (1993), đề nghị đường lối điều trị đầu tiên cho người lớn viêm phổi mắc phải ở cộng đồng, theo các nhóm phần chia về tuổi tác, bệnh tật, độ nặng củạ bệnh như sau:
Bệnh nhân ngoại trú không có bệnh tật, tuổi dưới 60
Yếu tố gây bệnh thường gặp nhất là S. Pneumoniae, Mycoplasma Pneumoniae, các virus đường hô hấp, Chlamydía pneumonieae, Hemophilus influenzae và các loại khác (legionella, tụ cầu vàng, trực khuân lao, nấm trong bệnh dịch địa phương và trực khuẩn gram âm ái khí). Kháng sinh được đề xuất để điều trị là macrolid hay tetracyclin. Erythromycin (250 - 500mg uống ngày 4 lần) là thuốc điều trị chọn lựa trong hầu hết các trường hợp. Thuốc này không đắt nhưng thường dạ dày ruột không dung nạp. Thời gian điều trị chừng 10 - 14 ngày. Chứng cứ tại sao điều trị như thế chưa đầy đủ thời gian yêu cầu cho việc điều trị bệnh viêm phổi do vi khuẩn là 14 ngày (21 ngày nếu bệnh nhân có tổn thương miễn dịch). Nếu bệnh nhân không dung nạp erythromycin hay nếu nghi nhiễm khuẩn do H. influenzae (ví dụ ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ như COPD) nên cho một loại macrolid mới hơn và đắt hơn là clarithromycin hay azithromycin. Có thể thay thế tetracyclin (liều như với erythromycin) cho bệnh nhân dị ứng với macrolid. Tetracyclin và clarithromycin không nên dùng cho phụ nữ mang thai.
Bệnh nhân ngoại trú có bệnh tật hoặc tuổi trên 60
Hầu hết yếu tố gây bệnh thường gặp là S. pneumoneae, các virus đường hô hấp, H. influenzae, trực khuẩn gram âm ái khí, tụ cầu vàng và loại khác (legionella, Moraxella. catarrhalis, trực khuẩn lao, nấm trong địa phương).
Nên cho thuốc loại cephalosporin thế hệ hai hay trimethoprim - sulfamethoxazol hay một beta - lactam phối hợp với thuốc ức chế beta – lactamase như amoxicillin potassium clavulanat. Nếu nghi có viêm phổi do vi khuẩn legionella nên cho macrolid.
Các bệnh nhân nằm viện
Yếu tố gây bệnh thường gặp nhất là S. pneumoniae, H. influenzae, trực khuẩn gram âm ái khí, Legionella, tụ cầu vang, C. pneumoniae, các virus đường hô hấp, các loại khác (M. pneumoniae, M.catarrhalis, trực khuẩn lao, nấm trong địa phương). Nên cho cephalosporin thế hệ 2 hay thế hệ 3 hay một beta - lactam phối hợp với thụốc ức chế beta - lactamase như amoxicillin potassium clavulanat. Nếu nghi có viêm phổi do vi khuẩn legionella nên cho macrolid.
Bệnh nhân nằm viện, bệnh nặng
Yếu tố gây bệnh thường gặp nhất là S. pneumoniae, legionella, trực khuần gram âm ái khí, M. pneumoniaè, các virus đường hô hấp, các loại khác (H. influenzae, trực khuẩn lao và nấm trong địa phương). Nên điều trị phối hợp một macrolid với hoặc cephalosporin thế hệ ba có tác dụng chống Pseudomonas hay loại chống Pseudomonas khác.
Có cần thiết cho viêm phổi mắc phải ở cộng đồng nằm viện không thì tùy theo sự cân nhắc của thầy thuốc. Nhiều bệnh nhân có thể điều trị rất kết qủa ở ngoại trú. Chỉ định cần nằm viện gồm người trên 65 tuổi có nhiều bệnh (như nghiện rượu, đái tháo đường, COPD), chức năng sống suy giảm, giảm bạch cầu hay tăng bạch cầu, suy hô hấp, có biểu hiện nhiễm khuẩn, thiếu sự chăm sóc giúp đỡ thêm ở nhà.
Làm sạch các thâm nhiễm phổi ở bệnh nhân viêm phổi mắc phải ở cộng đồng phải mất 6 tuần hay lâu hơn: ở người trẻ thời gian này nhanh hơn hoặc đó là người không hút thuốc hay chỉ tổn thương một thùy. Điều trị kháng sinh mà các thâm nhiễm phổi vẫn tăng tiến trên phim X quang là dấu hiệu tiên lượng rất kém.
Phòng bệnh
Vaccin phế cầu đa giá (chứa các kháng nguyên polysaccharide vỏ của 23 chủng S. pneumoniae) có hiệu lực phòng hay làm nhẹ bớt 85 - 90% các nhiễm khuẩn phế cầu ở bệnh nhân còn khả năng miễn dịch. Chỉ định tiêm chủng vaccin phế cầu: là bất kể bệnh tim phổi mạn tính nào. Những người có nguy cơ cao hàng năm cần tiêm chủng vaccin chống cúm.
Bài viết cùng chuyên mục
Ung thư trung biểu mô màng phổi
Tuổi trung bình khởi phát các triệu chứng ung thư trung biểu mô màng phổi ác tính khoảng 60 tuổi: Thời gian tiềm tàng từ khi tiếp xúc đến khi có các triệu chứng từ 20 đến 40 năm.
Hít phải khói
Điều quan trọng là phải tìm hiểu và nhận biết ba hậu qủa của hít khói, sự oxy hóa của mô bị suy giảm, tổn thương đường hô hấp trên và dưới do nhiệt, tổn thương phổi do hóa chất có trong khói.
Nhiễm protein phế nang phổi
Tiến trình của bệnh thay đổi, một số tự lui bệnh trong khi ở những bệnh nhân khác phát triển thành suy hô hấp tiến triển. Nhiễm khuẩn phổi do Nocardia hay do nấm có thể xảy ra.
Hội chứng giảm thông khí béo phì: hội chứng Pickwick
Điều trị hội chứng giảm thông khí béo phl chủ yếu là giảm cân, điều đó sẽ cải thiện tình trạng ưu thán và thiếu oxy cũng như các đáp ứng thông khí đối với thiếu oxy và ưu thán.
Bệnh Sarcoid: chẩn đoán và điều trị
Những vị trí có thể làm sinh thiết được như các hạch bạch huyết sờ thấy được, các tổn thương ở da hay ở tuyến nước bọt chỉ định cho làm sinh thiết sẽ giúp thêm bằng chứng cho chẩn đoán.
Các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh phổi
Thở rít khi hít vào và thở rít khi thở ra cùng với nhau gợi cho thấy có tắc nghẽn cố định ở nơi nào đó trong đường thở phía trên. Ngáy là tiếng thở vào do rung động thanh hầu khi ngủ.
Các hội chứng hít sặc ở phổi
Hít phải mạn tính các chất trong dạ dày, có thể do các rối loạn tiên phát của thực quản, ví dụ không giãn được cơ trơn, hẹp thực quản, cứng bì.
Thở không khí ô nhiễm
Hậu qủa của tổn thương phổi khi hít thở không khí nhiễm bẩn tùy thuộc vào độ nặng nề và cách thức tiếp xúc với không khí này cũng như tinh trạng phổi của người bệnh trước đó.
Viêm tắc tiểu phế quản
Viêm tắc tiểu phế quản có thể kết hợp với viêm khớp dạng thấp, viêm đa cơ và viêm da cơ. Liệu pháp penicillin có thể là nguyên nhân gây viêm tắc tiểu phế quản ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp.
Ung thư phổi thứ phát
Carcìnoma mạch bạch huyết biểu thị sự lan rộng của ung thư phổi thứ phát vào lưới bạch huyết phổi, có lẽ do sự lan rộng của khối u từ mạch máu vào mạch bạch huyết.
Giãn phế quản
Giãn phế quản là rối loạn bẩm sinh hay mắc phải của phế quản lớn đặc trưng bởi có giãn và hủy hoại bất thường, hằng định thành phế quản. Bệnh có thể do viêm hay nhiễm khuẩn đường hô hấp tái đi tái lại.
Các u carcinoid phế quản: ung thư phổi
Các u carcinoid phế quản mọc chậm, ít khi di căn. Biến chứng của nó là chảy máu, làm tắc đường hô hấp hơn là xâm lấn, di căn. Cắt bỏ bằng ngoại khoa một số trường hợp là cần thiết.
Viêm phổi kỵ khí và áp xe phổi
Nhiễm khuẩn kỵ khí các loại khác nhau có biểu hiện trên phim X quang khác nhau có thể phân biệt được. Áp xe phổi có biểu hiện trên phim X quang là một hang đơn độc thành dầy bao quanh có vùng đông đặc.
Các bệnh phổi nghề nghiệp
Các bệnh phổi nghề nghiệp có biểu hiện rối loạn đường hô hấp tắc nghẽn gồm có hen nghề nghiệp, viêm phế quản công nghiệp và bệnh bụi bông.
Tắc đường hô hấp
Tắc mạn tính đường hô hấp trên có thể do carcinom hầu họng hay thanh quản, chít hẹp thanh quản hay dưới nắp thanh quản, u hạt thanh quản hay dây thanh hoặc liệt dây thanh âm hai bên.
Các khối u lành tính của phổi
Hầu hết bệnh nhân cần mở lồng ngực để chẩn đoán xác định vì nghi carcinoma phế quản. Bệnh nhân ít có khả năng mổ có thể chụp phim lồng ngực hàng loạt để theo dõỉ sự tiến triển.
Bệnh xơ nang phổi
Các biểu hiện của phổi xảy ra ở mọi bệnh nhân thoát qua được tuổi niên thiếu gồm có viêm phế quản cấp và mạn, giãn phế quản, viêm phổi, xẹp phổi, tổn thương nhu mô và vùng quánh phế quản.
Viêm màng phổi
Khi có tràn dịch màng phổi, dày màng phổi hoặc có khí trong khoang màng phổi phải có chẩn đoán và điều trị khác. Cũng cần nhắc lại rằng gẫy xương sườn có thể gây tràn dịch màng phổi nặng.
Giảm thông khí phế nang tiên phát
Thiếu oxy máu và ưu thán xuất hiện và các triệu chứng này được cải thiện nếu tăng thông khí tự nguyện. Thường có tăng hồng cầu.
Các bệnh phổi kẽ
Các bệnh phổi kẽ có các biểu hiện X quang, sinh lý, lâm sàng chung. Khó thở khi gắng sức và ho khan lúc đầu âm ì là các triệu chứng biểu hiện thường gặp.
Các khối u trung thất
CT giúp ích cho xử trí, nếu nghi đến thực quản thì chụp X quang thực quản với baryt. Siêu âm Doppler hoặc chụp tĩnh mạch cánh tay đầu, tĩnh mạch chủ trên, chụp động mạch.
Các thâm nhiễm phổi ở người suy giảm miễn dịch
Để chẩn đoán, nên cấy máu, xét nghiệm và cấy đờm, dịch màng phổi nếu có, xét nghiệm đờm khạc ra tìm vi khuẩn, nấm, trực khuẩn lao, Legionella và P. carinii lá quan trọng.
Hen phế quản
Sinh bệnh học của hen còn biết rất ít. Ngày nay hen đầu tiên được nhìn nhận như một bệnh viêm bán cấp đường thở. Vai trò của các cơ chế dị ứng trong số lớn bệnh nhân bị hen được chú ý nhiều.
Bệnh nấm aspergillus phổi phế quản dị ứng
Tiêu chuẩn chẩn đoán thứ đến là phân lập được aspergillus trong đờm, tiền sử có đờm lốm đốm máu, phản ứng bì muộn với kháng nguyên aspergillus.
Hội chứng trụy hô hấp cấp (ARDS)
Không co biện pháp phòng ARDS có hiệu qủa, đặc biệt dùng PEEP phòng ngừa cho các bệnh nhân có nguy cơ ARDS không có hiệu qủa.
