Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng

2016-10-02 09:42 PM

Làm sạch các thâm nhiễm phổi ở bệnh nhân viêm phổi mắc phải ở cộng đồng phải mất 6 tuần hay lâu hơn: ở người trẻ thời gian này nhanh hơn hoặc đó là người không hút thuốc hay chỉ tổn thương một thùy.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Hội lồng ngực Hòa Kỳ (1993), đề nghị đường lối điều trị đầu tiên cho người lớn viêm phổi mắc phải ở cộng đồng, theo các nhóm phần chia về tuổi tác, bệnh tật, độ nặng củạ bệnh như sau:

Bệnh nhân ngoại trú không có bệnh tật, tuổi dưới 60

Yếu tố gây bệnh thường gặp nhất là S. Pneumoniae, Mycoplasma Pneumoniae, các virus đường hô hấp, Chlamydía pneumonieae, Hemophilus influenzae và các loại khác (legionella, tụ cầu vàng, trực khuân lao, nấm trong bệnh dịch địa phương và trực khuẩn gram âm ái khí). Kháng sinh được đề xuất để điều trị là macrolid hay tetracyclin. Erythromycin (250 - 500mg uống ngày 4 lần) là thuốc điều trị chọn lựa trong hầu hết các trường hợp. Thuốc này không đắt nhưng thường dạ dày ruột không dung nạp. Thời gian điều trị chừng 10 - 14 ngày. Chứng cứ tại sao điều trị như thế chưa đầy đủ thời gian yêu cầu cho việc điều trị bệnh viêm phổi do vi khuẩn là 14 ngày (21 ngày nếu bệnh nhân có tổn thương miễn dịch). Nếu bệnh nhân không dung nạp erythromycin hay nếu nghi nhiễm khuẩn do H. influenzae (ví dụ ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ như COPD) nên cho một loại macrolid mới hơn và đắt hơn là clarithromycin hay azithromycin. Có thể thay thế tetracyclin (liều như với erythromycin) cho bệnh nhân dị ứng với macrolid. Tetracyclin và clarithromycin không nên dùng cho phụ nữ mang thai.

Bệnh nhân ngoại trú có bệnh tật hoặc tuổi trên 60

Hầu hết yếu tố gây bệnh thường gặp là S. pneumoneae, các virus đường hô hấp, H. influenzae, trực khuẩn gram âm ái khí, tụ cầu vàng và loại khác (legionella, Moraxella. catarrhalis, trực khuẩn lao, nấm trong địa phương).

Nên cho thuốc loại cephalosporin thế hệ hai hay trimethoprim - sulfamethoxazol hay một beta - lactam phối hợp với thuốc ức chế beta – lactamase như amoxicillin potassium clavulanat. Nếu nghi có viêm phổi do vi khuẩn legionella nên cho macrolid.

Các bệnh nhân nằm viện

Yếu tố gây bệnh thường gặp nhất là S. pneumoniae, H. influenzae, trực khuẩn gram âm ái khí, Legionella, tụ cầu vang, C. pneumoniae, các virus đường hô hấp, các loại khác (M. pneumoniae, M.catarrhalis, trực khuẩn lao, nấm trong địa phương). Nên cho cephalosporin thế hệ 2 hay thế hệ 3 hay một beta - lactam phối hợp với thụốc ức chế beta - lactamase như amoxicillin potassium clavulanat. Nếu nghi có viêm phổi do vi khuẩn legionella nên cho macrolid.

Bệnh nhân nằm viện, bệnh nặng

Yếu tố gây bệnh thường gặp nhất là S. pneumoniae, legionella, trực khuần gram âm ái khí, M. pneumoniaè, các virus đường hô hấp, các loại khác (H. influenzae, trực khuẩn lao và nấm trong địa phương). Nên điều trị phối hợp một macrolid với hoặc cephalosporin thế hệ ba có tác dụng chống Pseudomonas hay loại chống Pseudomonas khác.

Có cần thiết cho viêm phổi mắc phải ở cộng đồng nằm viện không thì tùy theo sự cân nhắc của thầy thuốc. Nhiều bệnh nhân có thể điều trị rất kết qủa ở ngoại trú. Chỉ định cần nằm viện gồm người trên 65 tuổi có nhiều bệnh (như nghiện rượu, đái tháo đường, COPD), chức năng sống suy giảm, giảm bạch cầu hay tăng bạch cầu, suy hô hấp, có biểu hiện nhiễm khuẩn, thiếu sự chăm sóc giúp đỡ thêm ở nhà.

Làm sạch các thâm nhiễm phổi ở bệnh nhân viêm phổi mắc phải ở cộng đồng phải mất 6 tuần hay lâu hơn: ở người trẻ thời gian này nhanh hơn hoặc đó là người không hút thuốc hay chỉ tổn thương một thùy. Điều trị kháng sinh mà các thâm nhiễm phổi vẫn tăng tiến trên phim X quang là dấu hiệu tiên lượng rất kém.

Phòng bệnh

Vaccin phế cầu đa giá (chứa các kháng nguyên polysaccharide vỏ của 23 chủng S. pneumoniae) có hiệu lực phòng hay làm nhẹ bớt 85 - 90% các nhiễm khuẩn phế cầu ở bệnh nhân còn khả năng miễn dịch. Chỉ định tiêm chủng vaccin phế cầu: là bất kể bệnh tim phổi mạn tính nào. Những người có nguy cơ cao hàng năm cần tiêm chủng vaccin chống cúm.

Bài viết cùng chuyên mục

Nhiễm protein phế nang phổi

Tiến trình của bệnh thay đổi, một số tự lui bệnh trong khi ở những bệnh nhân khác phát triển thành suy hô hấp tiến triển. Nhiễm khuẩn phổi do Nocardia hay do nấm có thể xảy ra.

Viêm phổi tăng bạch cầu ái toan

Một dạng cấp, nặng của viêm phổi tăng bạch cầu ái toan gần đây được mô tả, đặc trưng bởi sốt, suy hô hấp, dịch rửa phế quản phế nang có tỷ lệ bạch cầu ái toan cao

Các rối loạn thở liên quan đến ngủ

Cần thực hiện sự sàng lọc, dùng phương pháp đo oxy ban đêm, tại nhà có giá trị tiên đoán âm tính cao, để loại trừ ngừng thở khi ngủ quan trọng.

Hen phế quản

Sinh bệnh học của hen còn biết rất ít. Ngày nay hen đầu tiên được nhìn nhận như một bệnh viêm bán cấp đường thở. Vai trò của các cơ chế dị ứng trong số lớn bệnh nhân bị hen được chú ý nhiều.

Lao phổi: chẩn đoán và điều trị

Các chủng trực khuẩn lao kháng với một hay nhiều thuốc chống lao chủ yếu gặp thấy với tần số tăng đến mức báo động, đặc biệt ở cư dân các đô thị.

Tăng áp lực động mạch phổi

Tăng áp lực động mạch phổi thứ phát thì khó nhận biết về mặt lâm sàng trong các giai đoạn sớm, khi các triệu chứng và các dấu hiệu của bệnh gây ra nó còn sơ khởi.

Các u carcinoid phế quản: ung thư phổi

Các u carcinoid phế quản mọc chậm, ít khi di căn. Biến chứng của nó là chảy máu, làm tắc đường hô hấp hơn là xâm lấn, di căn. Cắt bỏ bằng ngoại khoa một số trường hợp là cần thiết.

Suy hô hấp cấp

Các triệu chứng và dấu hiệu của suy hô hấp cấp vừa không nhậy cảm vừa không đặc hiệu do đó người thầy thuốc phải nghĩ tới và yêu cầu làm xét nghiệm đo khí máu động mạch nếu nghi có suy hô hấp.

Tắc đường hô hấp

Tắc mạn tính đường hô hấp trên có thể do carcinom hầu họng hay thanh quản, chít hẹp thanh quản hay dưới nắp thanh quản, u hạt thanh quản hay dây thanh hoặc liệt dây thanh âm hai bên.

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính COPD

Viêm phế quản mạn tính có đặc điểm là tăng tiết niêm dịch phế quản biểu thị bằng ho có đờm từ 3 tháng trở lên trong ít nhất 2 năm liền mà không phải do bất kỳ bệnh nào khác gây nên.

Giãn phế quản

Giãn phế quản là rối loạn bẩm sinh hay mắc phải của phế quản lớn đặc trưng bởi có giãn và hủy hoại bất thường, hằng định thành phế quản. Bệnh có thể do viêm hay nhiễm khuẩn đường hô hấp tái đi tái lại.

Bệnh nấm aspergillus phổi phế quản dị ứng

Tiêu chuẩn chẩn đoán thứ đến là phân lập được aspergillus trong đờm, tiền sử có đờm lốm đốm máu, phản ứng bì muộn với kháng nguyên aspergillus.

Các bệnh phổi nghề nghiệp

Các bệnh phổi nghề nghiệp có biểu hiện rối loạn đường hô hấp tắc nghẽn gồm có hen nghề nghiệp, viêm phế quản công nghiệp và bệnh bụi bông.

Tràn khí màng phổi tự phát

Tràn khí màng phổi thứ phát xảy ra như một biến chứng của COPD, hen, xơ nang, lao và cac bệnh phổi thâm nhiễm các loại gồm cả viêm phổi pneumocystis.

Tổn thương phổi do tia xạ

Xơ phổi do tia xạ xảy ra gần như trong tất cả bệnh nhân được nhận một tiến trình đầy đủ về điều trị bằng tia xạ trong ung thư phổi hoặc lồng ngực.

Ung thư phổi thứ phát

Carcìnoma mạch bạch huyết biểu thị sự lan rộng của ung thư phổi thứ phát vào lưới bạch huyết phổi, có lẽ do sự lan rộng của khối u từ mạch máu vào mạch bạch huyết.

Bệnh huyết khối tắc mạch phổi

Các phát hiện lâm sàng trong huyết khối tác nghẽn mạch phổi phụ thuộc vào kích thước cục tắc và trạng thái tim phổi trước đó. Trong nghẽn mạch phổi lớn, thất phải bị suy, huyết áp hệ thống hạ.

Bệnh do mycobacteria không phải lao

Các chế độ hóa trị liệu truyền thống dùng 5 hay 6 loại thuốc nhưng có những tác dụng phụ do thuốc và không có sự cộng tác của bệnh nhân.

Bệnh xơ nang phổi

Các biểu hiện của phổi xảy ra ở mọi bệnh nhân thoát qua được tuổi niên thiếu gồm có viêm phế quản cấp và mạn, giãn phế quản, viêm phổi, xẹp phổi, tổn thương nhu mô và vùng quánh phế quản.

Các khối u trung thất

CT giúp ích cho xử trí, nếu nghi đến thực quản thì chụp X quang thực quản với baryt. Siêu âm Doppler hoặc chụp tĩnh mạch cánh tay đầu, tĩnh mạch chủ trên, chụp động mạch.

Thở không khí ô nhiễm

Hậu qủa của tổn thương phổi khi hít thở không khí nhiễm bẩn tùy thuộc vào độ nặng nề và cách thức tiếp xúc với không khí này cũng như tinh trạng phổi của người bệnh trước đó.

Các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh phổi

Thở rít khi hít vào và thở rít khi thở ra cùng với nhau gợi cho thấy có tắc nghẽn cố định ở nơi nào đó trong đường thở phía trên. Ngáy là tiếng thở vào do rung động thanh hầu khi ngủ.

Các khối u lành tính của phổi

Hầu hết bệnh nhân cần mở lồng ngực để chẩn đoán xác định vì nghi carcinoma phế quản. Bệnh nhân ít có khả năng mổ có thể chụp phim lồng ngực hàng loạt để theo dõỉ sự tiến triển.

Các test chẩn đoán bệnh phổi: test chức năng, test luyện tập và soi phế quản

Đo phế dung và đo các thể tích phổi cho phép xác định có rối loạn chức năng phổi hạn chế hay tắc nghẽn không. Rối loạn chức năng phổi tắc nghẽn được xác định khi các tỷ lệ dòng khí giảm.

Ung thư trung biểu mô màng phổi

Tuổi trung bình khởi phát các triệu chứng ung thư trung biểu mô màng phổi ác tính khoảng 60 tuổi: Thời gian tiềm tàng từ khi tiếp xúc đến khi có các triệu chứng từ 20 đến 40 năm.