- Trang chủ
- Sách y học
- Triệu chứng học nội khoa
- Triệu chứng học bệnh khớp
Triệu chứng học bệnh khớp
Bệnh khớp có các biểu hiện không chỉ ở khớp mà còn ở các cơ quan khác, do vậy việc thăm khám phải toàndiện bao gồm hỏi bệnh, khám thực thể, X quang và các xét nghiệm.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Bệnh khớp có các biểu hiện không chỉ ở khớp mà còn ở các cơ quan khác, do vậy việc thăm khám phải toàndiện bao gồm hỏi bệnh, khám thực thể, X quang và các xét nghiệm.
Các triệu chứng cơ năng
Đau khớp: Là triệu chứng chủ yếu, và quan trọng nhất, thường là lý do chính buộc bệnh nhân phải đi khámbệnh và điều trị.
Đau khớp có 2 kiểu khác nhau:
Đau kiểu viêm (hay đau do viêm), thường đau liên tục trong ngày, đau tăng lên về đêm và sáng, khi nghỉ ngơi không hết đau, mà chỉ giảm đau ít. Đau kiểu viêm gặp trong các bệnh khớp do viêm:thấp khớp cấp, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp nhiễm khuẩn, các bệnh của tổ chứcliên kết...
Đau không do viêm hay đau kiểu cơ học: Đau tăng khi bệnh nhân cử động, giảm đau nhiều hoặc hết đau khi bệnhnhân nghỉ ngơi, thường gặp trong thoái hoá khớp, các dị tật bẩm sinh...
Các rối loạn vận động khớp:
Dấu hiệu cứng khớp buổi sáng: Là hiện tượng cứng các khớp, khó cử động khớp khi mới ngủ dậy, phải sau một thời gian hoặc sau nhiều lần cử động khớp thì mới trở lại cảm giác các khớp mềm mại. Thời gian cứng khớp buổisáng có thể kéo dài một giờ đến nhiều giờ. Vị trí hay gặp là các khớp cổ tay, bàn ngón tay, đôi khi ở khớp gối vàkhớp cổ chân.
Dấu hiệu này tương đối đặc trưng cho viêm khớp dạng thấp. Cứng khớp buổi sáng ở khớp đốt sống thắt lưng vàlưng hay gặp trong viêm cột sống dính khớp ở giai đoạn sớm.
Hạn chế các động tác cử động khớp: Tùy theo từng vị trí và mức độ tổn thương khớp mà có thể biểu hiện bằngkhó cầm nắm, hạn chế đi lại, ngồi xổm... Hạn chế vận động có thể do nhiều nguyên nhân như: tổn thương khớp, tổn thương cơ, tổn thương thần kinh…Hạn chế vận động có thể kéodài trong thời gian ngắn có hồi phục hoặc diễn biến kéo dài không hồi phục.
Khai thác các yếu tố bệnh lý trong tiền sử:
Tiền sử bản thận: chấn thương nghề nghiệp, các bệnh trước khi có biểu hiện ở khớp như nhiễm khuẩn, nhiễm độc...
Yếu tố gia đình: trong nhiều bệnh khớp có liên quan đến yếu tố gia đình như viêm cột sống dính khớp, viêm khớpdạng thấp, bệnh Gút...
Các triệu chứng thực thể
Nguyên tắc chung khám bệnh nhân bị bệnh khớp:
Cần bộc lộ các khu vực cần khám đủ để quan sát, sờ, nắn và khám ở các tư thế khác nhau.
Khám phải tuân theo trình tự để tiện cho việc nhận xét đánh giá. Phải chú ý so sánh 2 bên với nhau và so sánh với người lành.
Cần liệt kê các khớp cần khám và nếu có thể được nên sử dụng các sơ đồ hệ thống các khớp.
Các triệu chứng hay gặp:
Sưng khớp: là triệu chứng quan trọng. Sưng khớp là biểu hiện của viêm ở màng
hoạt dịch khớp, tổ chức phầnmềm cạnh khớp, tràn dịch trong ổ khớp hoặc tăng sinh màng hoạt dịch và xơ hoá tổ chức cạnh khớp dẫn đến biếnđổi hình thể của khớp hoặc biến dạng khớp.
Sưng khớp dễ phát hiện ở các khớp nông ngoại vi của chi trên hoặc chi dưới, còn các khớp cột sống, khớp háng,khớp vai nằm ở sâu khó phát hiện chính xác triệu chứng sưng khớp.
Vị trí, số lượng: Có thể sưng một khớp, sưng vài khớp và sưng nhiều khớp. Sưng khớp có thể đố i xứng 2 bênhoặc không đối xứng (xưng các khớp nhỏ đối xứng 2 bên hay gặp trong bệnh viêm khớp dạng thấp, sưng khớp lớn, khớp vừa, ở một hoặc vài khớp không đối xứng hay gặp trong bệnh thấp khớp cấp.
Sưng khớp đốt bàn-ngón cái bàn chân một bên hoặc hai bên hay gặp trong bệnh Gút cấp tính.
Tính chất sưng khớp: sưng kèm nóng, đỏ, đau, đối xứng hay không đối xứng.
Diễn biến của sưng khớp:
Di chuyển từ khớp này sang khớp khác-khớp cũ khỏi hoàn toàn trong thời gian ngắn< 1 tuần (hay gặp trong bệnh thấp khớp cấp).
Tăng dần: Sưng khớp xuất hiện thêm ở các khớp mới, trong khi các khớp cũ vẫn sưng, đau kéo dài (hay gặptrong bệnh viêm khớp dạng thấp, Gút mạn tính...).
Không di chuyển, cố định: Chỉ tổn thương ở một khớp hay vài khớp không chuyển sang các khớp khác.
Hay tái phát: Sưng khớp tái đi tái lại nhiều lần ở cùng vị trí.
Biến dạng: Là do hậu quả của những biến đổi đầu xương, dây chằng bao khớp làm lệch trục của khớp.
Biến dạng thường đi kèm: Hiện tượng dính, hạn chế vận động hoặc dính hoàn toàn các khớp.
Cột sống biến dạng có thể dẫn đến gù, vẹo, mất đường cong sinh lý (gặp trong bệnh viêm cột sống dính khớp, thoát vị đĩa đệm, thoái hoá cột sống và một số bệnh cột sống khác).
Biến dạng bàn tay hình lưng dĩa, bàn tay gío thổi gặp trong bệnh viêm khớp dạng thấp.
Hạn chế vận động:
Chú ý quan sát dáng đi, tư thế đứng của bệnh nhân, khả năng cúi, động tác ngồi xổm, các cử động của chi...
Có 2 loại hạn chế vận động:
Hạn chế vận động chủ động: Bệnh nhân không tự làm được động tác theo yêu cầu của thầy thuốc nhưng dưới tácđộng của thầy thuốc thì các động tác thụ động vẫn làm được. Triệu chứng này là do tổn thương cơ, thần kinh hoặcphối hợp cả hai.
Hạn chế vận động thụ động: bệnh nhân không làm được các động tác theo yêu cầu, dưới tác động của thầythuốc các động tác đó cũng không làm được. Triệu chứng này là do tổn thương tại khớp (do dính khớp, do tổnthương dây chằng hoặc sụn khớp...).
Tại mỗi khớp cần khám tất cả các động tác để phát hiện sự hạn chế cử động ở các tư thế:gấp, duỗi, dạng, kh p,xoay…
Tầm hoạt động của khớp bị tổn thương cần so sánh với tầm hoạt động ở khớp lành bên đối diện của bệnh nhân,hoặc với tầm hoạt động khớp ở người bình thường để đánh giá mức độ hạn chế vận động khớp. Hoặc đo tầm vậnđộng khớp bằng thước đo góc.
Các dấu hiệu thực thể khác:
Tràn dịch ổ khớp: Rõ nhất ở khớp gối (có dấu hiệu bập bềnh xương bánh chè), tràn dịch ổ khớp các khớp kháckhó phát hiện hơn.
Lỏng lẻo khớp: Cử động khớp vượt quá mức bình thường (ở khớp gối có dấu hiệu há khớp khi đứt dây chằng bêntrong, hay bên ngoài, dấu hiệu rút ngăn kéo khi đứt dây chằng chéo).
Tiếng lắc rắc: Khi cử động có thể nghe tiếng lạo xạo hoặc tiếng lắc rắc trong ổ khớp (hay gặp trong thoái hoá khớp).
Các biến đổi ngoài da và phần mềm:
Ban đỏ vòng: ban đỏ nổi gờ trên mặt da hình tròn hoặc bầu dục có viền xung quanh, da ở vùng trung tâm bìnhthường, xuất hiện và mất đi nhanh, không ngứa và không bong vẩy. Vị trí ban đỏ vòng gặp ở phần ngực, bụng làchủ yếu. Ban đỏ vòng gặp trong bệnh thấp khớp cấp.
Ban đỏ hình cánh bướm nổi trên mặt da ở gò má 2 bên và vùng môi trên không bong vảy, không ngứa.
Ban đỏ rải rác, ban đỏ dạng đĩa gặp ở thận hoặc các chi; các ban có hình tròn hoặc có thể có loét, hoại tử ởtrung tâm. Ban đỏ hình cánh bướm và ban đỏ dạng đĩa hay gặp trong bệnh luput ban đỏ hệ thống.
Ban đỏ kèm theo có bong vẩy trắng hình giọt hoặc mảng gặp trong bệnh viêm khớp vảy nến.
Các hạt dưới da: hay gặp ở mặt duỗi của khớp, kích thước từ vài mi li mét đến vài xăng ti mét, không đau, khôngđỏ, không di động gặp trong bệnh viêm khớp dạng thấp gọi là hạt thấp dưới da. Những hạt có tính chất gần giốngnhư hạt thấp ưới da nhưng xuất hiện và mất đi nhanh chóng trong giai đoạn đầu của bệnh thấp khớp cấp đượcgọi là hạt mây-ne (Meynet). Trong bệnh Gút mạn tính có các hạt lắng đọng a.uric ở vành tai, ở gần các khớp;kích thước to nhỏ khácnhau (gọi là hạt tophi).
Sẹo co kéo, hoặc vết rò mủ do lao.
Khối áp xe lạnh hay gặp ở vùng thắt lưng.
Teo cơ đùi, cơ mông.
Teo khối cơ chung thắt lưng, cột sống thắt lưng thẳng và phẳng tạo thành hình ảnh thắt lưng hình “cánh phản”gặp trong viêm cột sống dính khớp giai đoạn muộn.
Đau các điểm bám gân cơ khi thăm khám...
Các triệu chứng toàn thân:
Sốt, gầy sút, mệt mỏi: gặp trong nhiều bệnh khớp khác nhau, sốt cao kéo dài hay gặp trong bệnh luput ban đỏ hệ thống.
Các tổn thương ở các tạng có liên quan:
Tim mạch: Thấp khớp cấp (TKC) có viêm tim biểu hiện bằng nhịp nhanh, tiếng tim mờ, nhịp ngựa phi, tràn dịchmàng ngoài tim...
Phổi: Khối u ở đỉnh phổi, kèm triệu chứng sưng đau khớp điển hình, ngón tay dùi trống (hội chứng Pierre-Marie).
Thần kinh: hội chứng chèn ép tủy gặp trong VCSDK có biến dạng cột sống mức độ nặng.
Tổn thương các bộ phận khác của cơ thể (viêm mống mắt và viêm mống mắt thể mi hay gặp trong VCSDK).
X - quang trong chẩn đoán bệnh về khớp
X - quang khớp có ý nghĩa lớn trong chẩn đoán các bệnh khớp, nhưng những thay đổi về hình ảnh X - quang thườngxuất hiện muộn và có một số bệnh khớp không có biến đổi hình ảnh X - quang của khớp. Do vậy về nguyên tắc baogiờ cũng phải kết hợp giữa lâm sàng, X-quang và các xét nghiệm mới có giá trị chẩn đoán bệnh một cách chính xác.
Hình ảnh X - quang cho thấy các hình thái chung của xương-khớp, trục của khớp, đầu xương, vỏ xương và các bèxương.
Những thay đổi ở đầu xương gồm: thưa xương, các ổ khuyết xương, hiện tượng xơ, dày màng xương.
Thay đổi của khe khớp:
Hẹp khe khớp, thay đổi hình ảnh của bờ khớp, không đều, nham nhở.
Dính khớp: Mất hình khe khớp, có các dải xơ, có thể có phá hủy đầu xương, lệch trục.
Khe khớp rộng ra khi có tràn dịch khớp.
Trật khớp một phần hay trật khớp hoàn toàn.
Các hình ảnh dị vật trong khe khớp gặp trong trường hợp vôi hoá sụn khớp.
Thay đổi của cột sống:
Thay đổi về các đường cong của cột sống, hình thái và kích thước của thận đốt
như: xẹp thận đốt sống, dínhcác đốt sống do lao, sự hình thành các cầu xương cột sống trong VCSDK, hình các mỏ xương trong thoái hoákhớp.
Hình ảnh vôi hoá các dây chằng cột sống.
Thay đổi hình thái kích thước của các khớp liên đốt sống và đĩa đệm.
Thay đổi của khe khớp cùng chậu trong VCSDK.
Mờ, hẹp khe khớp, hình ảnh các dải xơ hoặc dính toàn bộ khe khớp tùy theo mức độ viêm khớp cùng chậu.
Các xét nghiệm dùng trong các bệnh khớp
Các xét nghiệm về phản ứng viêm
Phản ánh tình trạng viêm trong cơ thể, có giá trị theo dõi, điều trị các bệnh khớp do viêm, nhưng không có giá trịtrong chẩn đoán nguyên nhân.
Tốc độ lắng hồng cầu: Tăng trong nhiều bệnh: TKC, VKDT, các bệnh của tổ chức liên kết, viêm khớp nhiễm khuẩn, Gút cấp tính.
Fibrinogen: tăng trong các bệnh khớp có viêm.
CPR (+).
Điện di protein có thể thấy α2-globulin tăng cao, γ-globulin tăng trong các bệnh viêm mạn tính.
Các xét nghiệm miễn dịch
Các kháng thể kháng liên cầu khuẩn:
ASLO (anti streptolysin 0).
ASK (anti streptokinase).
ASH (anti strepto hyaluronidase).
Thường dùng hơn cả là ASLO. Khi các phản ứng (+) chứng tỏ trong cơ thể đã có nhiễm liên cầu khuẩn β tanhuyết nhóm A. ASLO (+) khi >200đv; test thường (+) trong TKC, có khi dương tính trong các bệnh khác cónhiễm liên cầu khuẩn như viêm cầu thận cấp, viêm mủ da.
Yếu tố thấp (rheumatoid factor):
Là một kháng thể kháng IgG, có khả năng ngưng kết với γ-globulin. Về bản chất nó là IgM, IgG hay IgA nhưng chủ yếu là IgM.
Có 2 cách phát hiện:
Phản ứng waaler-rose: Dùng hồng cầu người nhóm O, rh (-) gắn với γ-globulin cho phản ứng với huyết thanh củabệnh nhân. Nếu có yếu tố thấp (+) sẽ có hiện tượng ngưng kết hồng cầu. Phản ứng (+) khi độ pha loãng là 1/16.
Phản ứng γ-latex: Dùng các hạt nhựa latex gắn với γ-globulin người, sau đó cho phản ứng với huyết thanh bệnhnhân sẽ có hiện tượng ngưng kết. Phản ứng (+) khi độ pha loãng là 1/32.
Yếu tố thấp (+) trong 70% các trường hợp VKDT, thường (+) muộn sau khi bị bệnh > 6 tháng. Có thể thấy yếu tốthấp trong một số bệnh khác như luput ban đỏ, viêm gan mạn tấn công ...
Tìm tế bào Hargraves (LE) trong máu và tủy.
Tế bào LE là những bạch cầu đa nhân thực bào những mảnh nhân của tế bào bị huỷ hoại do yếu tố kháng nhânlưu hành trong huyết thanh. LE (+) ở 85% các trường hợp luput ban đỏ hệ thống, và có (+) trong 10% VKDT.
Khi ủ huyết thanh bệnh nhân (có yếu tố kháng nhân) với tế bào bạch cầu người thì nhân tế bào bị thoát ra ngoài, và được các tế bào bạch cầu khác thực bào tạo ra tế bào LE gọi là hiện tượng Haserick
Các xét nghiệm kháng thể kháng nhân:
Thường dùng xét nghiệm tìm kháng thể kháng nhân bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang, hay dùng các tếbào nuôi cấy WIL2, HEP2 ủ với huyết thanh bệnh nhân, nếu có kháng thể kháng nhân nó sẽ gắn với nhân tế bào vàdùng hệ thống phát hiện bằng kháng thể huznh quang.
Kháng thể kháng nhân (+) 90-95% ở các trường hợp luput ban đỏ.
Các xét nghiệm miễn dịch khác:
Định lượng bổ thể CH50- C3, C4, định lượng các phức hợp miễn dịch...
Những xét nghiệm tìm nguyên nhân
Cấy nhầy họng tìm streptococus, chọc hút dịch tìm vi khuẩn, tìm tế bào ác tính, cấy máu khi nghi ngờ nhiễmkhuẩn huyết.
Phản ứng Mantoux.
Định lượng a.uric máu trong bệnh Gút.
Sinh thiết màng hoạt dịch để xét nghiệm giải phẫu bệnh.
Các xét nghiệm đặc biệt
Xét nghiệm dịch khớp:
Dịch khớp bình thường trong, không màu, nhớt, tế bào < 500/ mm3, đa số là bạch cầu đơn nhân và tế bào màng hoạt dịch, albumin khoảng 2 g%, mucin 800 mg%.
Mucin test: Dùng a.axetic 7N, có hiện tượng đông kết của mucin ở mức độ khác nhau.
Các xét nghiệm khác:
Cấy khuẩn, tìm các tinh thể trong dịch khớp, tế bào hình chùm nho (VKDT). XN yếu tố thấp trong dịch khớp.
Xét nghiệm HLA:
HLA B27(+) 80-90% các trường hợp VCSDK, hoặc với tỉ lệ thấp hơn (30%) trong các bệnh cột sống khác.
HLADR4 : (+) trong 70% các trường hợp VKDT.
HLADR3: Trong luput ban đỏ...
Soi ổ khớp: có thể quan sát hình ảnh đại thể, sinh thiết màng hoạt dịch, lấy bỏ các dị vật trong ổ khớp, và mộtsố thủ thuật khác. Soi ổ khớp chỉ được tiến hành ở các cơ sở chuyên khoa phải đảm bảo vô trùng tuyệt đối.
Bài viết cùng chuyên mục
Nhịp đập mỏm tim: bình thường và lệch chỗ
Bình thường mỏm tim sờ được ở khoang liên sườn V đường giữa đòn trái. Mỏm tim lệch chỗ thường gợi ý rằng xung động sờ được lệch về cạnh bên hay lệch xa hơn đường giữa đòn.
Đau bụng cấp tính và mãn tính
Đau bụng là một trong những dấu hiệu chức năng hay gặp nhất trong các bệnh về tiêu hoá, nhiều khi chỉ dựa vào triệu chứng đau, người thầy thuốc có thể sơ bộ.
Đau bụng
Đau bụng là một dấu hiệu cơ năng hay gặp nhất trong các bệnh về tiêu hóa và các tạng trong ổ bụng. Dấu hiệu đau có tính chất gợi ý đầu tiên khiến người thầy thuốc có hướng hỏi bệnh, thăm khám bệnh để chẩn đoán nguyên nhân gây đau bụng là gì.
Hoại tử mỡ do đái tháo đường (NLD): dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Một nghiên cứu gần đây hơn cho thấy chỉ có 11% bệnh nhân với hoại tử mỡ mắc đái tháo đường, và tỉ lệ hiện mắc ở bệnh nhân đái tháo đường chỉ từ 0.3–3.0%.
Tăng áp lực tĩnh mạch cảnh: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Nhiều nghiên cứu đã khẳng định giá trị của tăng áp lực tĩnh mạch cảnh. Nếu áp lực tăng, áp lực tĩnh mạch cảnh có thể giúp tiên lượng áp lực của tĩnh mạch trung tâm và tình trạng thể tích dịch.
Nghiệm pháp Finkelstein: tại sao và cơ chế hình thành
Chấn thương lặp đi lặp lại hoặc các rối loạn viêm làm viêm, dẫn đến sưng mặt quay cổ tay, thu hẹp không gian mà gân cơ dạng dài ngón cái, cơ duỗi ngắn ngón cái đi qua.
Lệch lưỡi gà: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Lệch lưỡi gà di động là biểu hiện của liệt dây X hoặc tổn thương nhân hoài nghi. Tổn thương nhân hoài nghi gây yếu cơ co khít hầu cùng bên, và hậu quả dẫn đến lưỡi gà sẽ lệch ra xa bên tổn thương.
Dấu hiệu đường rãnh (Sulcus sign): tại sao và cơ chế hình thành
Trên nền một khớp vai không ổn định, khi kéo cánh tay xuống, đầu của xương cánh tay sẽ di chuyển tương đối xuống dưới so với khớp vai. Đây cũng là nguyên nhân làm xuất hiện “rãnh” trên da.
Khó thở khi nằm: tại sao và cơ chế hình thành
Lý thuyết hiện hành được chấp nhận về sự khởi phát của khó thở khi nằm là sự tái phân phối dịch từ hệ tuần hoàn nội tạng và các chi dưới trở về hệ tuần hoàn trung tâm xảy ra khi nằm thẳng.
Khát nhiều trong bệnh nội tiết: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Khát nhiều trong bệnh nội tiết thường thứ phát sau đa niệu và là đáp ứng của mất nước (đái tháo đường, đái tháo nhạt, tăng calci máu).
Cổ có màng: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Một dấu hiệu ít gặp và nếu thật sự hiện hữu thì triệu chứng này luôn mang ý nghĩa bệnh lý. Trong hội chứng Turner, có đến 40% bệnh nhân sẽ có triệu chứng này.
Liệt dây thần kinh ròng rọc (dây IV): dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Thần kinh ròng rọc kích thích cơ chéo trên đối bên và bắt chéo ngay sau khi thoát ra khỏi phía sau trung não. Tổn thương dây IV gây hậu quả ở mắt bên đối diện.
Dấu hiệu chữ V: tại sao và cơ chế hình thành
Viêm da cơ là viêm cơ đặc trưng bởi các tổn thương vi mạch làm phá hủy cơ bằng cơ chế miễn dịch, chủ yếu là lắng đọng bổ thể, phức hợp miễn dịch cũng tham gia một phần.
Triệu chứng bệnh đái tháo nhạt
Bệnh do thiếu nội tiết chống đái nhiều của thuỳ sau tuyến yên gây ra. Nhưng khoảng 60% các trường hợp do rối loạn chức năng, không thấy rõ nguyên nhân
Phù ngoại biên: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Cơ chế chính gây phù dưới da ngoại biên phụ thuộc vào tăng áp lực thủy tĩnh, giảm áp lực thủy tĩnh mô kẽ, giảm thể tích huyết tương, tăng áp lực dịch kẽ, tăng tính thấm thành mạch, tắc mạch bạch huyết.
Dáng đi thất điều: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Dáng đi thất điều điển hình là dấu hiệu của tiểu não giữa, nhưng có thể có trong tổn thương bán cầu tiểu não. Trong nghiên cứu bệnh nhân có tổn thương tiểu não một bên, thất điều tư thế hiện diện 80-93 phần trăm.
Đái ra mủ
Đái ra mủ nhiều, mắt thường có thể thấy nước tiểu đục, đái ra mủ nhẹ, nước tiểu vẫn trong, phải nhìn qua kính hiển vi mới thấy được. Là hiện tượng có mủ trong nước tiểu. Bình thường nước tiểu có rất ít hồng cầu (không quá 2000 bạch cầu/phút).
U hạt vòng: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Trước đây, u hạt vòng được xem như có mối liên hệ với đái tháo đường typ 1, và mức độ liên quan giữa chúng đã được xem xét nhiều lần, tuy nhiên vẫn không xác định được một mối liên hệ rõ ràng.
Chẩn đoán hạch to
Thường mọi bệnh lý của hệ thống tổ chức tân đều biểu hiện trên lầm sàng bằng những hạch to. Do đó chẩn đoán hạch to cho ta một ý niệm rõ ràng về những bệnh của hệ thống này.
Áp lực tĩnh mạch cảnh (JVP): hình dạng sóng bình thường
Ở người khoẻ mạnh, có thể dự đoán hình dạng sóng của tĩnh mạch cảnh khi đặt catheter tim. Mỗi phần phản ánh cho sự thay đổi ở tâm nhĩ phải và áp lực tĩnh mạch cảnh.
Nghiệm pháp bàn tay ngửa: tại sao và cơ chế hình thành
Trong nghiệm pháp Yergason, khi cơ nhị đầu và gân bị gấp, bất kì phản ứng viêm hoặc tổn thương cũng có thể làm giảm khả năng chống lại lực cản.
Giảm phản xạ (dấu hiệu Woltman): dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Có những báo cáo chung về giá trị của phản xạ (đặc biệt là phản xạ gân gót) như là dấu hiệu để chẩn đoán cường giáp và suy giáp. Thời gian bán nghỉ ở những người khoẻ xấp xỉ 240 đến 320 ms.
Dấu hiệu Trousseau’s: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Có rất ít các nghiên cứu trực tiếp về độ nhạy và độ đặc hiệu của dấu hiệu trousseau. khoảng 11% tất cả bệnh nhân ung thư sẽ bị viêm tĩnh mạch huyết khối, ngược lại 23% các bệnh nhân được tìm thấy bằng chứng qua khám nghiệm tử thi.
Hội chứng xuất huyết
Xuất huyết là một hội chứng bệnh lý gặp ở nhiều chuyên khoa như Xuất huyết dưới da hay gặp ở nội khoa, truyền nhiễm, xuất huyết dạ dày gặp ở khoa tiêu hoá; rong kinh.
Táo bón và kiết lỵ
Bình thường số lần đại tiện từ một đến hai lần trong một ngày, phân mềm đóng thành khuôn, lượng phân từ 200g đến 400g. khi bị táo bón thì quá hai ngày mới đại tiện, mỗi lần đại tiện rất khó hoặc lượng phân mỏi lần ra ít hơn bình thường hoặc khô cứng.
