Nghiệm pháp Hawkins: tại sao và cơ chế hình thành

2020-05-13 11:46 AM

Hawkins có giá trị chẩn đoán giới hạn. Nó có độ đặc hiệu thấp và chỉ có độ nhạy vừa phải và chỉ có thể có giá trị nếu cơn đau theo nghiệm pháp là nghiêm trọng.

Người khám đứng ở phía trước của bệnh nhân, gấp thụ động của cả khuỷu tay và vai đến 90 °, sau đó người khám xoay khớp vai vào phía trong cho đến khi cơn đau được ghi nhận.

Hình. Giải phẫu

Giải phẫu

Hình. Nghiệm pháp Hawkins

Nghiệm pháp Hawkins

Nguyên nhân

Hầu hết các chấn thương vai bao gồm:

Chấn thương dây chằng vai.

Viêm dây chằng khớp vai.

Gai xương mỏm cùng vai.

Dày dây chằng quạ đòn.

Cơ chế

Trong việc thực hiện động tác này, lồi củ lớn của xương cánh tay (với cơ trên gai đính kèm) được đẩy vào các dây chằng quạ đòn - gây đau.

Trong một bờ vai khỏe mạnh, các dây chằng của các cơ vai đi qua một khoảng hẹp giữa mỏm cùng vai của xương bả vai, bao hoạt dịch và đầu của xương cánh tay.

Bất kỳ tắc nghẽn hoặc hẹp không gian này có thể gây ra kẹt các dây chằng và cơ bắp, chèn ép bao hoạt dịch và gây đau. Tương tự như vậy, nếu các cơ bắp đã bị thương từ quá trình khác, bất kỳ kích thích gây ra bởi sự chuyển động cọ xát trong không gian nhỏ này sẽ gây đau.

Giống như nghiệm pháp của Neer, nghiệm pháp va chạm của Hawkins là một nỗ lực để phát hiện tổn thương hoặc viêm cơ hay dây chằng khớp vai trong không gian dưới mỏm cùng vai (nghĩa là để tái tạo hội chứng đau dưới mỏm cùng vai). Nếu cơn đau được cảm nhận trong quá trình nén, dây chằng hoặc cơ được cho là bị thương.

Tổn thương dây chằng khớp vai/ Viêm gân: Nghiệm pháp dương tính do 2 cơ chế.

Nếu các cơ ở khớp vai yếu hoặc bị thương, xương cánh tay có thể bị dịch về phía trước (như các cơ thường giữ nó trong khớp vai) và gây ra va chạm.

Kích thích tổn thương gân từ trước (không phân biệt nguyên nhân ban đầu) càng trầm trọng hơn do bị buộc phải thông qua một không gian hẹp, gây đau đớn hơn nữa.

Ý nghĩa

Giống như nghiệm pháp của Neer, Hawkins có giá trị chẩn đoán giới hạn. Nó có độ đặc hiệu thấp và chỉ có độ nhạy vừa phải và chỉ có thể có giá trị nếu cơn đau theo nghiệm pháp là nghiêm trọng. Một số nghiên cứu đã chỉ ra:

Độ nhạy 92% và độ đặ hiệu 26-44% để xác định viêm gân dây chằng khớp vai, NLR của 0.34.

Độ nhạy 83% và độ đặ hiệu 51% để xác định rách dây chằng khớp vai, NLR của 0.3.45.

Nhận được kết quả, kết quả dương tính ít có giá trị cho người khám; nghiệm pháp âm tính có một số giá trị mặc dù nó không hoàn toàn loại trừ bệnh lý cơ bản.

Bài xem nhiều nhất

Khám thắt lưng hông

Hội chứng thắt lưng hông gồm có hai hội chứng thành phần là hội chứng cột sống và hội chứng dây rễ thần kinh, Khám lâm sàng nhằm mục đích phát hiện.

Hội chứng thiếu máu

Thiếu máu xẩy ra khi mức độ huyết sắc tố lưu hành của một người nào đó thấp hơn mức độ của một người khoẻ mạnh cùng giới, cùng tuổi, cùng một môi trường sống.

Khám hội chứng màng não

Khi màng não bị tổn thương do nhiều nguyên nhân khác nhau, trên lâm sàng sẽ thấy biểu hiện của hội chứng màng não (meningismus).

Hội chứng xuất huyết

Xuất huyết là một hội chứng bệnh lý gặp ở nhiều chuyên khoa như Xuất huyết dưới da hay gặp ở nội khoa, truyền nhiễm, xuất huyết dạ dày gặp ở khoa tiêu hoá; rong kinh.

Rối loạn tiểu tiện: đái buốt đái rắt bí đái

Khi bàng quang có tổn thương, nhất là vùng cổ bàng quang dễ bị kích thích, khối lượng nước tiểu rất ít cũng đủ gây phản xạ đó, Hậu quả là làm cho người bệnh phải đi đái luôn.

Hội chứng rối loạn tiêu hoá

Dấu hiệu đau có tính chất gợi ý đầu tiên khiến người thầy thuốc có hướng hỏi bệnh, thăm khám bệnh để chẩn đoán nguyên nhân gây đau bụng là gì.

Khám và chẩn đoán phù

Phù là hiện tượng ứ nước ở trong các tổ chức dưới da hoặc phủ tạng, Sự ứ nước đó có thể gây bởi nhiều cơ chế, cho nên phù là triệu chứng của rất nhiều bệnh.

Hội chứng tràn dịch màng phổi

Ổ màng phổi là một khoảng ảo. Bình thường trong ổ màng phổi có rất ít thanh dịch, đủ cho lá thanh và lá tạng trượt lên nhau được dễ dàng trong động tác hô hấp.

Xuất huyết tiêu hóa

Xuất huyết tiêu hoá là hiện tượng máu thoát ra khỏi lòng mạch chảy vào ống tiêu hoá, biểu hiện lâm sàng là nôn ra máu đi ngoài ra máu.

Hội chứng liệt nửa người

Theo Dèjerine, liệt nửa người là liệt tay chân cùng một bên của cơ thể do tổn thương từ các tế bào tháp đến xináp của chúng với tế bào sừng trước tủy sống.