- Trang chủ
- Sách y học
- Triệu chứng học nội khoa
- Hạch to: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Hạch to: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Có rất nhiều nguyên nhân tiềm ẩn gây hạch to, nhưng các dấu hiệu đặc trưng còn hạn chế. Vấn đề chính của bác sĩ là phải xác định, liệu rằng hạch to có phải từ nguyên nhân ác tính không hoặc một số nguyên nhân lành tính.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Mô tả
Tăng kích thước hạch bạch huyết, có thể sờ được hoặc quan sát được qua hình ảnh.
Nguyên nhân
Có hàng trăm các rối loạn trên lâm sàng có thể biểu hiện hạch to. MIAMI là các từ viết tắt của các nguyên nhân và rất hữu ích trong việc ghi nhớ chúng: Ung thư (Malignancy), nhiễm trùng (Infectious), tự miễn (Autoimmune), kết hợp nhiều nguyên nhân (Miscellaneous) và bệnh gây ra do thăm khám hoặc điều trị (Iatrogenic).

Bảng. Nguyên nhân gây hạch to
Cơ chế chung
Nói chung, hầu hết các nguyên nhân gây ra hạch to đều có cơ chế xuyên suốt:
Sự lan truyền đáp ứng viêm ở toàn thân, khu trú hay trực tiếp.
Sự xâm lấn và/hoặc tăng sinh các tế bào bất thường hay ác tính.
Ung thư
Ung thư gây ra bệnh ở hạch bạch huyết qua sự xâm lấn hoặc thâm nhiễm các tế bào ác tính vào các hạch bạch huyết hoặc tăng sinh trực tiếp các tế bào ác tính trong hạch.
Hệ bạch huyết có cơ chế cho sự di căn xa của nhiều ung thư (e.g đại trực tràng, buồng trứng, tuyến tiền liệt). Các tế bào u di chuyển từ vị trí chính của khối u qua hệ thống bạch huyết đến hạch bạch huyết, nơi chúng tích tụ và tăng sinh, làm tăng kích thước hạch.
Trong u lympho, có sự tăng sinh bất thường các tế bào lympho trong hạch có liên quan đến tăng sản các cấu trúc bình thường dẫn đến sưng hạch bạch huyết.
Nhiễm trùng
Hệ thống bạch huyết là trung tâm chức năng của hệ miễn dịch. Đại thực bào và các tế bào trình diện kháng nguyên khác di chuyển đến hạch bạch huyết, để trình diện kháng nguyên cho các tế bào T và B. Khi nhận diện kháng nguyên, tế bào T và B tăng sinh trong hạch để đáp ứng miễn dịch có hiệu quả. Sưng hạch bạch huyết do nhiễm trùng (tại chỗ hoặc toàn thân) có thể được xem như sự đáp ứng miễn dịch quá mức bình thường.
Sự xâm lấn trực tiếp hạch bạch huyết, từng hạch riêng biệt bị nhiễm khuẩn hoặc nhiễm các loại kháng nguyên khác. Kết quả đáp ứng miễn dịch làm tăng sản cấu trúc hạch, tăng sinh tế bào T và B và thâm nhiễm các tế bào miễn dịch khác ở vị trí nhiễm trùng. Nó dẫn đến viêm và sưng tấy hạch, vì vậy, gây ra sưng hạch bạch huyết.
Trong các nhiễm trùng toàn thân, hạch có thể tăng sản. Trong đáp ứng với kích thích của một kháng nguyên (nội bào hoặc ngoại bào), nó sẽ được mang tới hạch để trình diện với tế bào T và B, tế bào lympho và các tế bào khác trong hạch tăng sinh, gây ra sưng hạch bạch huyết.
Tự miễn
Cơ chế tự miễn gây sưng hạch bạch huyết cũng tương tự như nhiễm trùng, ngoại trừ trường hợp kháng nguyên là tự kháng nguyên và đáp ứng viêm không phù hợp.
Thường tăng sinh tế bào B trong hạch bạch ở bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp, ngược lại tăng sinh tế bào T ở bệnh nhân SLE.

Hình. Sưng hạch cổ
Ý nghĩa
Có rất nhiều nguyên nhân tiềm ẩn gây hạch to, nhưng các dấu hiệu đặc trưng còn hạn chế. Vấn đề chính của bác sĩ là phải xác định, liệu rằng hạch to có phải từ nguyên nhân ác tính không hoặc một số nguyên nhân lành tính, như nhiễm trùng.
Một vài đặc điểm của hạch được mô tả, ta phải nghi ngờ đó là hạch ác tính. Một bài tổng quan của các nghiên cứu đối với đặc điểm trong chẩn đoán ung thư hay các bệnh nghiêm trọng tiềm ẩn khác trong Bảng 4.5 thường có độ đặc hiệu cao hơn độ nhạy.
|
Đặc điểm |
Ý nghĩa |
|
Mật độ chắc |
Độ nhạy 48–62%, độ đặc hiệu 83–84%,PLR 2.3, NLR 0.6 |
|
Hạch không di động |
Độ nhạy 12–52%, độ đặc hiệu 97%, PLR 10.9 |
|
Kích thước hạch > 9cm2 |
Độ nhạy 37–38%, độ đặc hiệu 91–98%, PLR 8.4 |
Bảng. Ý nghĩa đặc điểm của hạch bạch huyết trong chẩn đoán ung thư hoặc bệnh nghiêm trọng tiềm ẩn
Tức là, nếu có các đặc điểm ấy, nó sẽ gợi ý nguyên nhân gây bệnh nghiêm trọng tiềm ẩn nhưng, nếu không có các đặc điểm ấy thì cũng không loại trừ được bệnh ác tính hoặc nguyên nhân nghiêm trọng khác.
Thời gian tiến triển của sưng hạch bạch huyết cũng được dùng để chỉ điểm ung thư, nếu trong thời gian ngắn nguyên nhân nghĩ đến nhiều hơn là một viêm nhiễm cấp tính, ngược lại nếu trong thời gian dài gợi ý đến nguyên nhân ung thư.
Trong một nghiên cứu 457 trẻ bị sưng hạch bạch huyết, trong 98.2% các trường hợp sưng hạch cấp tính là do nguyên nhân lành tính và ung thư hầu hết liên quan đến sưng hạch mạn tính và sưng nhiều hạch.
Hạch đau và hạch không đau
Thường những hạch đau có khả năng là hạch phản ứng hoặc liên quan đến viêm hơn là những hạch không đau,hạch này có khả năng là ác tính. Tuy nhiên, các bằng chứng chứng minh còn hạn chế.
Hạch virchow – chỉ ở bệnh lý ác tính đường tiêu hóa?
Hạch Virchow được chỉ là hạch thượng đòn và theo kinh điển, nó là dấu hiệu chỉ điểm cho bệnh lí ác tính đường tiêu hóa, nhưng các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra những mối liên quan rộng hơn.
Cơ chế
Hạch Virchow nằm ở cuối ống ngực. Chấp nhận giả thiết bạch huyết và các tế bào ác tính từ hệ thống đường tiêu hóa đi qua ống ngực và lắng đọng ở hạch Virchow.
Nguyên nhân
Hiện nay, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hạch Virchow gặp trong:
Ung thư phổi – phổ biến nhất.
Ung thư tụy.
Ung thư thực quản.
Ung thư thận.
Ung thư buồng trứng.
Ung thư tinh hoàn.
Ung thư dạ dày.
Ung thư tiền liệt tuyến.
Ung thư tử cung và cổ tử cung.
Ung thư túi mật – hiếm.
Ung thư gan.
Ung thư tuyến thượng thận, K bàng quang.
Sưng hạch bạch huyết
Vị trí của hạch sưng có thể giúp định hướng ban đầu nguyên nhân gây bệnh. Sự trình bày chi tiết về giải phẫu hệ bạch huyết được tìm thấy ở bất cứ cuốn sách giải phẫu nào. Khu vực dẫn lưu liên quan đến rất nhiều hạch và được trình bày ngắn gọn ở bảng. Sử dụng các mốc giải phẫu, bác sĩ lâm sàng có thể khu trú được ung thư nguyên phát.
|
Hạch bạch huyết |
Vùng dẫn lưu theo giải phẫu |
|
Cổ |
Tất cả vùng đầu cổ |
|
Thượng đòn |
Ngực, cơ quan trong ổ bụng ( xem hạch Virchow) |
|
Trên ròng rọc khuỷu tay |
Xương trụ hoặc cánh tay,bàn tay |
|
Nách |
Cánh tay, vú,ngực cùng bên |
|
Nhóm bẹn ngang |
Thành trước dưới, ống hậu môn dưới |
|
Nhóm bẹn dọc |
Chi dưới, dương vật, bìu và vùng mông |
Bảng. Vùng dẫn lưu bạch huyết
Sưng đa hạch
Thường được mô tả là tăng kích thước của hai hay nhiều hơn nhóm hạch bạch huyết. Nguyên nhân hay gặp là các bệnh toàn thân, bởi bản chất của chúng, ảnh hưởng nhiều hơn chỉ một vùng khu trú của cơ thể. Các nguyên nhân bao gồm u lympho, bệnh bạch cầu, lao, HIV/AIDS, giang mai, các bệnh nhiễm trùng khác và các bệnh mô liên kết (e.g. viêm khớp dạng thấp). Mặc dù, (giống trong y học) không có gì là hoàn toàn chắc chắn, nhưng nó giúp bác sĩ lâm sàng có chẩn đoán phân biệt ít nhất.
Bài viết cùng chuyên mục
Chấm nốt mảng xuất huyết: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Mặc dù không có nhiều bằng chứng về ý nghĩa lâm sàng của chấm, nốt và mảng xuất huyết và độ đặc hiệu thấp, do rất nhiều nguyên nhân tiềm ẩn, những bệnh nhân khỏe mạnh hiếm khi có các dấu hiệu này.
Triệu chứng bệnh đái tháo nhạt
Bệnh do thiếu nội tiết chống đái nhiều của thuỳ sau tuyến yên gây ra. Nhưng khoảng 60% các trường hợp do rối loạn chức năng, không thấy rõ nguyên nhân
Đau xương: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Đau xương mới xuất hiện là một dấu hiệu quan trọng cần chú ý ở cả bệnh nhân nghi ngờ ung thư và những bệnh nhân đã được chẩn đoán ung thư.
Triệu chứng học tuyến giáp
Tuyến giáp trạng là một tuyến đơn, nằm sát khí quản, nặng chứng 30, 35g. tuyến có hai thuỳ hai bên, cao 6cm, rộng 3cm, dày 2 cm, nối với nhau bằng một eo giáp trạng.
Thăm khám cận lâm sàng tim
Bằng phương pháp chiếu thông thường, các tia x quang toả từ bóng ra nên khi chiếu hình ảnh của tim có kích thước to hơn kích thước thực sự.
Lệch lưỡi gà: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Lệch lưỡi gà di động là biểu hiện của liệt dây X hoặc tổn thương nhân hoài nghi. Tổn thương nhân hoài nghi gây yếu cơ co khít hầu cùng bên, và hậu quả dẫn đến lưỡi gà sẽ lệch ra xa bên tổn thương.
Âm thổi tâm trương: một số dấu hiệu của hở van động mạch chủ
Hở van động mạch chủ trước đây đã được gọi theo nhiều tên khác nhau. Mặc dù những tên gọi này có cách gọi tên và cách diễn đạt rất thú vị, cơ chế và ý nghĩa của chúng đến nay vẫn còn chưa rõ ràng.
Khạc đờm: triệu chứng cơ năng hô hấp
Đặc điểm của đờm được khạc ra từ cây khí quản có ý nghĩa rất quan trọng trong chẩn đoán và điều trị bệnh hô hấp, song trước tiên phải xác định có phải bệnh nhân thực sự ho khạc đờm hay không
Biến đổi hình thái sóng: sóng x xuống lõm sâu
Trong chèn ép tim cấp, sự co bóp của các buồng tim dẫn tới tăng áp lực nhĩ phải. Sự gia tăng áp lực này cản trở sự lưu thông của máu tĩnh mạch từ tĩnh mạch cảnh về tâm nhĩ phải trong kì tâm thu.
Run tay parkinson: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Cơ chế run parkinson chưa rõ. Các kích thích có tính đồng bộ và nhịp điệu của các neuron trong nhân dưới đồi và nhân cầu nhạt trong có sự liên hệ với chứng run của bệnh nhân Parkinson và của những con khỉ được dùng MPTP.
Nghiệm pháp Hawkins: tại sao và cơ chế hình thành
Hawkins có giá trị chẩn đoán giới hạn. Nó có độ đặc hiệu thấp và chỉ có độ nhạy vừa phải và chỉ có thể có giá trị nếu cơn đau theo nghiệm pháp là nghiêm trọng.
Tăng trương lực cơ khi gõ/nắm tay: dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Tăng tương lực cơ là một triệu chứng của bệnh lý tại kênh ion. Sự bất ổn định của điện tích màng sợi cơ làm kéo dài quá trình khử cực sợi cơ, gây tăng trương lực.
Rối loạn chuyển hóa Gluxit
Gan có vai trò rất quan trọng trong điều hoà đường máu vì gan tổng hợp glycogen dự trữ, tân tạo glucoza, đồng thời thoái biến glycogen để giữ cho nông độ đường máu luôn luôn hằng định.
Thất ngôn Wernicke (thất ngôn tiếp nhận): dấu hiệu triệu chứng và nguyên nhân
Thất ngôn Wernicke gây nên bởi tổn thương hồi sau trên thùy thái dương của bán cầu ưu thế. Vùng này được cấp máu bởi các nhánh của động mạch não giữa. Nguyên nhân hay gặp nhất là nhồi máu não nhánh dưới động mạch não giữa.
Triệu chứng nhồi máu cơ tim cấp
Nhồi máu cơ tim (NMCT) là một thể bệnh nặng của BTTMCB (bệnh tim thiếu máu cục bộ), với bản chất là đã có biến đổi thực thể - hoại tử một vùng cơ tim.
Khám cảm giác
Cảm giác khách quan là do người bệnh thấy khi ta kích thích vào một vùng cơ thể, Tùy theo vật kích thích kim châm, lông, nóng lạnh mà người bệnh sẽ trả lời khác nhau.
Khó thở khi nằm nghiêng: nguyên nhân và cơ chế hình thành
Có bằng chứng hạn chế về độ nhạy và độ đặc hiệu; tuy nhiên, chứng dễ thở khi nằm nghiêng bên là một bệnh lý và cần thiết phải thăm khám.
Triệu chứng học thực quản
Thực quản là một ống dẫn thức ăn nối hầu với dạ dày, Nơi đổ vào dạ dày gọi là tâm vị, Thực quản dài khoảng 25 cm, chia làm 3 phần. Đoạn nối hầu và thực quản tạo bởi cơ vân, cơ nhẫn hầu, cơ này tạo cơ thắt trên (sphincter) của thực quản.
Tạo đờm: nguyên nhân và cơ chế hình thành
Dịch nhầy được sản sinh ra từ các tuyến bên trong cây khí phế quản. Các chất kích thích như khói thuốc lá hoặc tình trạng viêm làm tăng sản xuất chất nhầy.
Hội chứng tăng áp lực nội sọ
Hộp sọ là một cấu trúc cứng có một thể tích hữu hạn và hằng định, trong hộp sọ có tổ chức não, máu và dịch não tủy, các thành phần này có vai trò trong việc tạo nên áp lực nội sọ.
Bệnh án và bệnh lịch nội khoa
Bệnh án và bệnh lịch đều là những tài liệu cần thiết để chẩn đoán bệnh được đúng, theo dõi bệnh đựợc tốt và do đó áp dụng được kịp thời các phương thức điều trị đúng đắn.
Thăm khám lâm sàng tim
Người bệnh tim thường biểu hiện một số triệu chứng do rối loạn chức năng tim, các triệu chứng đó là: khó thở, ho ra máu, tím tái, phù, đau trước tim, hồi hộp, ngất.
Rối loạn Glucose (đường) máu
Tế bào trong đảo Langerhans của tụy tạng tiết ra insulin là chất làm hạ glucoza máu là chủ yếu, Glucoza tiết ra từ tế bào trong đảo Langerhans cũng có tác dụng.
Hội chứng đau thắt lưng
Đau có thể khu trú ở thắt lưng hay lan dọc theo cột sống, hoặc lan xuống một hoặc hai chân, Đau có thể tăng lên do động tác như Cúi, nghiêng, hoặc nâng vác.
Phát hiện tổn thương bệnh học hệ tiết niệu
Có thể biết được những tổn thương giải phẫu bệnh học đó qua những biểu hiện gián tiếp bằng xét nghiệm nước tiểu hoặc qua những biểu hiện trực tiếp bằng sinh thiết thận.
