Sinh lý tuyến tuỵ nội tiết

2013-04-06 11:26 PM

Tụy nằm trong khung tá tràng, sau dạ dày. Trọng lượng 70-80g. Dài 10-18cm, cao 6cm, dày 1-3cm. Tụy nội tiết gồm những đảo Langerhans (gồm từ 1-2 triệu đảo), là những tế bào tụ thành từng đám, chiếm 1g tổ chức tụy, thường ở gần mạch máu.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Nhắc lại giải phẫu và tổ chức học

Tụy nằm trong khung tá tràng, sau dạ dày. Trọng lượng 70-80g. Dài 10-18cm, cao 6cm, dày 1-3cm. Tụy nội tiết gồm những đảo Langerhans (gồm từ 1-2 triệu đảo), là những tế bào tụ thành từng đám, chiếm 1g tổ chức tụy, thường ở gần mạch máu, đổ vào tĩnh mạch cửa. Thần kinh tụy là một nhánh của dây X.

Vi thể một tiểu đảo.

Hình: Vi thể một tiểu đảo.

Mỗi tiểu đảo gồm 4 loại tế bào, những tế bào này phân biệt bằng cấu tạo, hình thái và tính chất bắt màu khi nhuộm (Hình).

Tế bào alpha bài tiết glucagon gây tăng đường huyết (20%).

Tế bào beta bài tiết insulin gây hạ đường huyết (60-75%).

Tế bào delta bài tiết somatostatin điều hòa bài tiết insulin và glucagon (5%).

Tế bào PP bài tiết một hormon chưa rõ chức năng được gọi là polypeptid tụy.

Các hormon tụy

Insulin

Cấu tạo hóa học:

Insulin được cấu tạo bởi hai chuỗi polypeptid, nối với nhau bằng cầu nối disulfua, có 51 acid amin, trọng lượng phân tử  5808. Khi hai chuỗi này tách ra thì hoạt tính sẽ bị mất.

Insulin được tổng hợp từ tế bào beta ở lưới nội bào tương qua 2 lần tiền chất : preproinsulin, đến proinsulin. Proinsulin tách thành insulin và peptid C ở lưới golgi. Tuy nhiên khoảng 1/6 vẫn nằm dưới dạng proinsulin và không có hoạt tính sinh học.

Cơ chế bài tiết insulin thông qua AMP vòng.

Vận chuyển và thoái hoá insulin:

Trong máu insulin hoàn toàn ở dạng tự do, thời gian bán huỷ là 6 phút và bài xuất ra khỏi máu sau 10-15 phút. Ngoại trừ lượng insulin gắn với receptor ở tế bào đích, lượng insulin còn lại bị insulinase phân huỷ ở trong gan, thận, cơ và các mô khác. Nồng độ insulin lúc đói ở người Việt Nam là 0,178 ( 0,077 mmol/l.

Tác dụng:

Chuyển hóa glucid: gây hạ đường huyết bằng 2 cách.

Tăng sử dụng: tăng tổng hợp glycogen ở gan, tăng dự trữ glycogen ở cơ, tăng phân hủy glucose ở ruột, tăng chuyển glucose thành acid béo.

Giảm tạo đường: giảm tạo glucose từ glycogen, giảm tạo đường mới từ protid.

Cơ chế tác dụng:

Ức chế tác dụng GH đối với men hexokinazavà ức chế men phosphataza dẫn đến giảm phân giải glycogen thành glucose.

Làm tăng tính thấm của tế bào đối với glucose nhờ insulin.

Insulin làm tăng lượng glycogen ở gan, có thể dự trữ ở gan lên đến 100 gr. Khi lượng glucose được đưa vào gan quá nhiều thì lượng glucose thừa sẽ chuyển thành acid béo và chuyển đến mô mỡ để dự trữ.

Chuyển hóa protein: tăng tổng hợp protein, tăng vận chuyển a.amin vào tế bào, kích thích tăng trưởng. Thiếu insulin, tăng thoái hóa protein. Cùng với GH của tiền yên làm cơ thể phát triển.

Chuyển hóa lipid: tăng tích lũy mỡ, kích thích tổng hợp mỡ tại gan và mô mỡ, tăng tổng hợp acid béo từ gucoza ở gan.

Không có insulin, những tác dụng trên đảo ngược, sự hấp thu glucose và acid amin vào tế bào bị giảm; tăng thoái biến glycogen, lipid và protein, gây tăng đường huyết; giảm sử dụng triglycerid để cung cấp năng lượng. Riêng não và gan không bị ảnh hưởng vì chúng độc lập với insulin.

Glucose ăn vào  50% oxy hóa cho năng lượng;  5% glycogen dự trữ ; 30-40% mỡ dự trữ (triglycerid). Nếu thiếu Insulin chỉ có 5% chuyển thành mỡ dự trữ, oxy hóa giảm, glycogen giảm ; glucose máu tăng cao.

Điều hòa bài tiết:

Tốc độ giải phóng insulin, cũng như nồng độ cuả nó trong huyết tương, chủ yếu được kiểm soát bởi nồng độ glucose máu, glucose máu cao, gây tăng bài tiết insulin và ngược lại.

Các hormon tiêu hóa như secretin, gastrin...kích thích tiết insulin.

 Ngoài ra dây X cũng có tác dụng kích thích tế bào beta bài tiết insulin.

Glucagon

Bản chất làpolypeptid, có 29 a.amin, trọng lượng phân tử 3485.

Tác dụng tăng đường huyết, kích thích gan tăng đường huyết mỗi khi đường huyết hạ do tăng phân giải glycogen, tăng phân giải lipid ở mô mỡ dự trữ để tạo năng lượng.

Cơ chế tác dụng qua trung gian AMP vòng.

Nồng độ bình thường 50-100 pg/ml, sự bài tiết tùy thuộc nồng độ glucose máu, khi glucose máu giảm dưới 70mg% sẽ kích thích tế bào alpha bài tiết glucagon và ngược lại. Nồng độ acid amin như alanin và arginin tăng cao sau bữa ăn sẽ kích thích bài tiết glucagon nhằm tăng chuyển acid amin thành glucose. Vận động mạnh cũng gây tăng tiết glucagon.

Somatostatin

Là một phân tử polypeptid gồm 14 acid amin, có trọng lượng phân tử 1640.

Tác dụng ức chế sự giải phóng insulin và glucagon.

Ức chế bài tiết dịch tiêu hóa, hấp thu thức ăn tại dạ dày, ruột non.

Thời gian bán huỷ của somatostatin rất ngắn, chỉ 3 phút, nồng độ các yếu tố liên quan đến tiêu hoá thức ăn đều kích thích bài tiết somatostatin.

Rối loạn chức năng tụy

Nhược năng

Bệnh đái tháo đường. Nguyên nhân: di truyền, dinh dưỡng, nhiễm trùng.Thường giảm hoặc mất chức năng bài tiết insulin của tế bào bêta đảo tuỵ.

Bệnh béo phì cũng đóng vai trò quan trọng trong bệnh sinh đái tháo đường, trong trường hợp này do giảm receptor tiếp nhận insulin tại tế bào.

Bệnh biểu hiện ăn nhiều, nhưng vẫn gầy, mệt mỏi, do glucose không vào được tế bào, cơ thể luôn thiếu năng lượng. Bệnh nhân dễ bị nhiểm khuẩn ngoài da, lao phổi. Trên lâm sàng bệnh nhân đái tháo đường thường đến khám vì những biểu hiện gọi là hội chứng 4 nhiều : ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều và gầy nhanh. Xét nghiệm có tăng đường máu, thể ceton trong máu, đường niệu cao...Bệnh thường phải điều trị với insulin thường xuyên, nếu không kiểm soát tốt bằng điều trị bệnh nhân dần có thể rơi vào tình trạng hôn mê toan huyết.

Thường chia làm 2 typ:

Typ I : (IDDM: Insulino-dependent diabete mellitus), thiếu insulin, gặp ở người trẻ   

Typ II : (NIDDM) do giảm số lượng receptor tiếp nhận insulin, thường gặp sau tuổi 40, người béo phì.

Ngoài ra, đái tháo đường còn gặp trong:

Giảm ái tính của receptor đối với insulin.

Thừa những hormon gây tăng đường huyết như glucagon, corticoid, GH.

Ưu năng

Do insulin được bài tiết nhiều, nguyên nhân u tụy, bệnh tự miễn...

Đặc trưng bởi sự hạ đường huyết, các cơn hạ đường huyết thường xuất hiện với mạch nhanh, vả mồ hôi, mệt mỏi. Khi mức đường huyết giảm dưới 2mmol/l (0,35g/l) dẫn đến những rối loạn chức năng não với hôn mê và có thể tử vong.

Điều trị đơn giản bằng tiêm hoặc truyền tĩnh mạch glucose.

Bài viết cùng chuyên mục

Giải phẫu và chức năng sinh lý của vỏ não

Cấu trúc mô học điển hình của bề mặt vỏ não, với các lớp liên tiếp các loại tế bào thần kinh khác nhau. Hầu hết các tế bào thần kinh chia làm ba loại: tế bào dạng hạt, tế bào hình thoi, và tế bào hình tháp.

Điều hòa bài tiết glucagon

Tầm quan trọng của kích thích axit amin tiết glucagon là glucagon sau đó thúc đẩy chuyển đổi nhanh chóng của các axit amin thành glucose, do đó thậm chí làm tăng glucose có trong các mô.

Ba nguồn năng lượng cho sự co cơ

Nguồn thứ nhất của năng lượng mà được sử dụng để tái lập ATP là chất phosphocreatine, cái mà mang một liên kết phosphate cao năng tương tự như liên kết của ATP.

Sinh lý cân bằng nước trong cơ thể

Sự mất nước thường xảy ra một thời gian ngắn trước khi cảm thấy khát. Trẻ em, người già, người mất trí có thể không nhận biết được cảm giác khát.

Sóng T trên điện tâm đồ: những bất thường khử cực

Khi thiếu máu xảy ra ở 1 phần của tim, quá trình khử cực của vùng đó giảm không tương xứng với khử cực ở các vùng khác. Hệ quả là sự thay đổi của sóng T.

Vùng dưới đồi điều khiển sự bài tiết của tuyến yên

Vùng dưới đồi là một trung tâm thu nhận thông tin liên quan đến các trạng thái của cơ thể, và những tín hiệu này được dùng để điều khiển sự bài tiết các hormone có tác dụng toàn thân từ tuyến yên.

Các yếu tố ruột ức chế bài tiết dịch dạ dày

Dạ dày bài tiết một ít ml dịch vị mỗi giờ trong suốt giai đoạn giữa các lần phân giải thức ăn, khi mà có ít hoặc không có sự tiêu hóa diễn ra ở bất cứ vị trí nào của ruột.

Kích thích và trương lực của hệ giao cảm và phó giao cảm

Hệ giao cảm và phó giao cảm hoạt hóa liên tục, và mức độ cơ bản chính là trương lực giao cảm và phó giao cảm. Ý nghĩa của trương lực là cho phép một hệ thần kinh đơn độc có thể đồng thời làm tăng và giảm hoạt động của cơ quan chịu kích thích.

Cơ chế kiểm soát lưu lượng máu đến mô cơ thể

Kiểm soát tức thời đạt được bằng cách co hoặc giãn các tiểu động mạch, mao mạch và cơ vòng trước mao mạch, trong vài giây đến vài phút. Kiểm soát lâu dài thay đổi từ từ, trong khoảng vài ngày, vài tuần thậm chí hàng tháng.

Điện thế màng được tạo ra bởi nồng độ các ion

Dưới điều kiện thích hợp sự chênh lệch nồng độ các ion qua màng bán thấm chọn lọc, tạo nên điện thế màng.

Tổng hợp ATP do oxy hóa Hydrogen - Sự Phosphoryl-Oxy hóa

Oxy hóa hydro được thực hiện, bởi một chuỗi các phản ứng được xúc tác bởi các enzym trong ty thể, biến mỗi nguyên tử hydro thành ion H+ cùng với một electron và sau đó dùng electron này gắn với oxy hòa tan.

Chức năng thính giác của vỏ não: cơ chế thính giác trung ương

Mỗi neuron riêng lẻ trong vỏ não thính giác đáp ứng hẹp hơn nhiều so với neuron trong ốc tai và nhân chuyển tiếp ở thân não. Màng nền gần nền ốc tai được kích thích bởi mọi tần số âm thanh, và trong nhân ốc tai dải âm thanh giống vậy được tìm thấy.

Chức năng của vỏ Limbic

Kích thích vùng khác nhau của vỏ Limbic sẽ gợi ra chức năng thực sự của mỗi vùng. Tuy nhiên, nhiều hành vi có thể được suy ra do kích thích một số vùng đặc biệt của vỏ Limbic.

Hormon tuyến giáp làm tăng hoạt động chuyển hóa tế bào

Hormon tuyến giáp tăng hoạt động chuyển hóa ở hầu hết tất cả các mô trong cơ thể. Mức chuyển hóa cơ sở có thể tăng 100 phần trăm trên mức bình thường nếu hormon tuyến giáp được bài tiết nhiều.

Tập trung mắt: điều hòa điều tiết mắt

Khi mắt tập trung vào một đối tượng ở xa và sau đó phải đột ngột tập trung vào một đối tượng ở gần, thấu kính thường điều tiết với sự nhạy bén thị giác tốt nhất trong thời gian ít hơn 1 giây.

Huyết áp: cơ chế cảm nhận và phản xạ để duy trì huyết áp bình thường

Đây là phản xạ được bắt đầu từ sự căng receptor, phân bố ở ở những vùng đặc biệt ở thành của một vài động mạch lớn. Sự tăng huyết áp làm căng receptor áp suất và gây ra sự dẫn truyền tín hiệu vào hệ thần kinh trung ương.

Chức năng trí tuệ cao của vùng não liên hợp trước trán

Chức năng trí tuệ bị giới hạn, tuy nhiên vùng trước trán vẫn có những chức năng trí tuệ quan trọng. Chức năng được lý giải tốt nhất khi mô tả điều sẽ xảy ra khi bệnh nhân tổn thương vùng trước trán.

Giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục nam

Hai túi tinh nằm ở 2 bên tuyến tiền liệt, dẫn tinh trùng vào tuyến tiền liệt và tận cùng ở bóng tinh. Niệu quản là nơi cuối cùng dẫn tinh trùng từ tinh hoàn ra bên ngoài.

Cảm giác xúc giác: sự phát hiện và dẫn truyền

Mặc dù, cảm giác đụng chạm, áp lực và rung là phân loại thường gặp khi phân chia các cảm giác, nhưng chúng được nhận biết bởi các loại receptor giống nhau.

Giải phẫu và sinh lý của cơ tim

Những cơ chế đặc biệt trong tim gây ra một chuỗi liên tục duy trì co bóp tim hay được gọi là nhịp tim, truyền điện thế hoạt động khắp cơ tim để tạo ra nhịp đập của tim.

Điều khiển bài tiết hormone qua cơ chế feedback

Mặc dù nồng độ các hormone trong huyết tương luôn dao động theo từng mức độ kích thích khác nhau trong ngày, nhưng sự xuất hiện của tất cả hormone phải được kiểm soát chặt chẽ.

Vận chuyển các chất qua màng bào tương bằng túi

Trong bào tương các túi nhập bào sẽ hoà lẫn với lysosome, các thành phần trong túi nhập bào sẽ bị thủy phân bởi các enzyme

Hoạt động nhu động đẩy đi của đường tiêu hóa

Nhu động là một đặc tính cố hữu của nhiều ống cơ trơn hợp bào; kích thích tại bất cứ điểm nào tại ruột có thể tạo một vòng co cơ ở lớp cơ vòng sau đó di chuyển dọc theo ống ruột.

Đường cong áp suất động mạch chủ

Sau khi van động mạch chủ đóng, áp suất động mạch chủ giảm chậm suốt thì tâm trương do máu chứa trong các động mạch chun co giãn tiếp tục chảy qua các mạch ngoại vi để về tĩnh mạch.

Điện tâm đồ: nguyên tắc phân tích trục điện tim

Bất kỳ sự thay đổi nào về sự dẫn truyền xung động này có thể gây ra sự bất thường điện thế của tim và hậu quả là gây ra sự thay đổi hình dạng các sóng trên điện tâm đồ.