Hormon điều hòa chuyển hóa Protein trong cơ thể

2022-08-16 10:12 AM

Hormon tăng trưởng làm tăng tổng hợp protein tế bào, Insulin là cần thiết để tổng hợp protein, Glucocorticoids tăng thoái hóa hầu hết protein mô, Testosterone tăng lắng động protein mô.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Hormon tăng trưởng làm tăng tổng hợp protein tế bào

Hormon tăng trưởng gây tăng protein mô. Cơ chế chính xác gây của hiện tượng đó vẫn chưa được biết đến, nhưng người ta tin rằng nó là kết quả chủ yếu do sự tăng vận chuyển amino acid qua màng tế bào, khả năng tăng tốc độ phiên mã và dịch mã DNA và RNA để tổng hợp protein, và giảm quá trình oxy hóa của các protein mô.

Insulin là cần thiết để tổng hợp protein

Thiếu insulin làm giảm hoặc có thể dẫn đến gần như không tổng hợp protein. Insulin làm tăng tốc độ vận chuyển một số amino acid vào tế bào, nên có thể kích thích sự tổng hợp protein. Ngoài ra, insulin còn làm giảm sự khử amin protein và tăng khả năng sử dụng glucose tế bào, vì vậy giảm sử dụng amino acid để tạo năng lượng.

Glucocorticoids tăng thoái hóa hầu hết protein mô

Glucocorticoids được tiết ra bởi tuyến vỏ thượng thận làm giảm lượng protein ở hầu hết các mô, trong khi lại làm tăng nồng độ amino acid trong huyết tương, cũng như làm tăng protein gan và protein huyết tương. Người ta tin rằng các tác dụng của glucocorticoid là qua sự tăng thoái hóa protein ngoài gan, do đó làm tăng lượng amino acid có trong dịch cơ thể. Nó cho phép Gan tăng tổng hợp số lượng các protein gan và protein huyết tương.

Testosterone tăng lắng động protein mô

Testosterone là hormone sinh dục nam, gây tăng lắng đọng protein ở mô khắp cơ thể, đặc biệt là protein ở trong cơ (tăng lên 30-50%). Cơ chế của sự tác động này chưa được biết đến, nhưng người ta tin rằng nó chắc chắn khác so với cơ chế tác động của hormone tăng trưởng, theo cách sau: Hormone tăng trưởng gây làm mô tiếp tục phát triển không có giới hạn, trong khi testosterone gây ra ở cơ kém hơn nhiều, một số protein mô khác tăng lên chỉ trong vài tháng. Cơ bắp và các protein mô khác sẽ đạt đến mức tối đa, dù tiếp tục chịu tác động của testosterone và lắng đọng protein hơn nữa.

Estrogen

Estrogen, là hormone sinh dục nữ, cũng gây nên lắng đọng một số protein, nhưng tác động của estrogen kém hơn nhiều so với testosterone.

Thyroxine gây tăng chuyển hóa của tế bào

Tyroxine gián tiếp tác động vào quá trình chuyển hóa protein bằng cách làm tăng chuyển hóa tế bào. Nếu không đủ carbohydrates và chất béo sử dụng tạo năng lượng, thyroxine làm tăng sự khử amin của protein và sử dụng chúng tạo năng lượng. Ngược lại, nếu đủ lượng carbohydrat và chất béo có sẵn và dư thừa amino acid trong dịch ngoại bào, thyroxine có thể làm tăng tốc độ tổng hợp protein. Trong phát triển ở người và động vật, nếu thiếu thyroxine có thể gây ức chế tăng trưởng bởi vì thiếu tổng hợp protein. Về bản chất, người ta tin rằng thyroxine tác động ít vào quá trình trao đổi protein nhưng lại đóng vai trò là một chất cơ bản quan trọng tác động thông qua việc làm tăng tốc độ của hoạt động đồng hóa bình thường và phản ứng protein dị hóa bình thường..

Bài viết cùng chuyên mục

Duy trì thăng bằng tĩnh: chức năng của soan nang và cầu nang

Khi cơ thể đột ngột bị đẩy mạnh ra trước - là khi cơ thể tăng tốc-đá tai, thứ có quán tính lớn hơn dịch xung quanh, đổ ra phía sau và chạm các nhung mao của tế bào có lông, và thông tin về sự mất thăng bằng được gửi về thần kinh trung ương.

Hệ thần kinh trung ương: so sánh với máy tính

Trong các máy tính đơn giản, các tín hiệu đầu ra được điều khiển trực tiếp bởi các tín hiệu đầu vào, hoạt động theo cách tương tự như phản xạ đơn giản của tủy sống.

Kiểm soát mức độ chính xác của co cơ: sự điều hòa ngược của hệ thống cảm giác thân thể tới vỏ não vận động

Tủy sống có thể gây ra các chương trình phản xạ vận động cụ thể có tính cố định. Nhiều những chương trình như vậy cũng có vai trò quan trọng khi các neuron vận động ở sừng trước của tủy sống bị kích thích.

Một số yếu tố yếu tố ảnh hưởng tới hô hấp

Trong môt thời gian ngắn, hô hấp có thể được điều khiển một cách tự động làm tăng hoặc giảm thông khí do rối loạn nghiêm trọng về PCO2, pH, và PO2 có thể xảy ra trong máu.

Chức năng sinh lý nội tiết của thận

Erythropoietin có tác dụng kích thích tế bào đầu dòng sinh hồng cầu, erythroid stem cell, chuyển thành tiền nguyên hồng cầu,proerythroblast, và làm tăng sinh hồng cầu.

Lách: kho dự trữ hồng cầu

Trong mô lách, các mao mạch thì cho máu thấm qua, bao gồm các tế bào hồng cầu, máu rỉ ra từ các thành của mao mạch vào các mắt xích nằm ngang khớp nhau, tạo nên mô lách màu đỏ.

Điều hòa vận động: vai trò thoi cơ trong các vận động chủ động

Bất cứ khi nào phải thực hiện một động tác yêu cầu độ chính xác và tỉ mỉ, sự kích thích thích hợp từ cấu tạo lưới thân não lên các suốt cơ sẽ giúp duy trì tư thế của các khớp quan trọng, giúp thực hiện các động tác chi tiết một cách khéo léo.

Nguyên nhân gây ngoại tâm thu: rối loạn nhịp tim

Ngoại tâm thu thường xuyên gặp trong thông buồng tim, ngoại tâm thu cũng xảy ra khi đứa catheter vào trong buồng thất phải và chén ép nội tâm mạc.

Phosphate vô cơ ở dịch ngoại bào

Giá trị trung bình của tổng số lương phosphate đươc đưa ra khoảng 4 mg/dl, thay đổi giữa giá trị bình thường là 3 đến 4 mg/dl người lớn and 4 đến 5 mg/dl ở trẻ nhỏ.

Nguồn gốc của chất dinh dưỡng trong dịch ngoại bào

Trong tất cả, dịch ngoại bào chỉ chiếm khoảng một phần ba tổng số dịch của cơ thể. Đây là điển hình ở người, nhưng tỷ lệ có thể thay đổi ở các sinh vật khác có chế độ lưu thông khác nhau.

Cơ chế tự điều hòa bơm máu của tim: cơ chế frank starling

Tìm hiểu với các điều kiện khác nhau, lượng máu tim bơm đi mỗi phút thông thường được xác định hầu hết qua tốc độn dòng máu qua tim từ tĩnh mạch, đó là các tĩnh mạch trở về.

Động tác bước và đi bộ: phản xạ tư thế

Các thông tin cảm giác từ bàn chân hay cảm giác tư thế từ các khớp đóng một vai trò quan trọng trong việc điều khiển áp lực bàn chân và bước đi liên tục.

Các van tim ngăn sự quay lại của dòng máu kỳ tâm thu

Đặc điểm giải phẫu của van động mạch chủ và van động mạch phổi phải được cấu tạo với một mô sợi đặc biệt mạnh mẽ nhưng cũng phải rất mềm dẻo để chịu đựng được thêm gánh nặng vật lý.

Sự khuếch tán dễ qua màng tế bào

Khuếch tán được làm dễ cần đến sự giúp đỡ của protein mang. Protein mang giúp một phân tử hay ion đi qua màng bởi liên kết hóa học với chúng.

Sự khuếch tán chống lại quá trình vận chuyển tích cực

Mặc dù có nhiều sự khác biệt của những cơ chế cơ bản, khuếch tán có nghĩa là sự di chuyển ngẫu nhiên của phân tử chất, cũng có thể vượt qua khoảng giữa các phân tử hoặc kết hợp với protein mang.

Đặc điểm sinh lý cấu tạo bộ máy tiêu hóa

Thiết đồ cắt ngang, ống tiêu hóa cấu tạo gồm 8 lớp từ trong ra ngoài: niêm mạc, cơ niêm, lớp dưới niêm mạc, đám rối Meissner, cơ vòng

Vùng vận động bổ xung: chức năng vận động của vỏ não và thân não

Vùng vận động bổ sung có bản đồ hình chiếu khác nữa để chi phối chức năng vận động. Vùng này nằm chủ yếu ở khe dọc giữa nhưng kéo dài vài cm lên trên vùng vỏ não trán trên.

Tác dụng lên thận và tuần hoàn của Aldosterol

Aldosterol làm tăng tái hấp thu natri và đồng thời tăng bài tiết kali trong các tế bào chính của ống thận nhỏ nhưng cũng bài tiết ion hydro để trao đổi với kali vào trong tế bào vỏ ống góp.

Cơ chế bài tiết cơ bản của tế bào tuyến đường tiêu hóa

Mặc dù tất cả cơ chế bài tiết cơ bản được thực hiện bởi các tế bào tuyến đến nay vẫn chưa được biết, nhưng những bằng chứng kinh nghiệm chỉ ra những nguyên lý bài tiết trình bày bên dưới.

Vai trò tạo điều kiện thuận lợi và ức chế khớp thần kinh (synap)

Trí nhớ thường được phân loại theo loại thông tin mà nó lưu trữ. Một trong những cách phân loại đó là chia trí nhớ thành trí nhớ tường thuật (declarative memory) và trí nhớ kỹ năng (skill memory).

Chức năng sinh lý của oxytocin

Oxytocin làm co tử cung khi mang thai, khiến vú bài xuất sữa, Hormone oxytocin, kích thích mạnh mẽ co tử cung khi mang thai, nhất là trong giai đoạn cuối của thai kì.

Sự đào thải các hormone khỏi hệ tuần hoàn

Có hai yếu tố có thể làm tăng hoặc giảm nồng độ của các hormone trong máu, yếu tố là mức độ bài tiết hormone vào máu và yếu tố mức độ đào thải hormone ra khỏi máu.

Sinh lý tiêu hóa ở dạ dày

Lúc đói, cơ dạ dày co lại, khi ta nuốt một viên thức ăn vào thì cơ giãn ra vừa đủ, để chứa viên thức ăn đó, vì vậy áp suất trong dạ dày không tăng lên.

Giải phẫu và sinh lý của cấp máu mạch vành

Hầu hết máu từ tĩnh mạch vành trái trở về tâm nhĩ phải thông qua xoang vành, chiếm 75%. Máu từ thất phải thông qua tĩnh mạch nhỏ chảy trực tiếp vào tâm nhĩ phải.

Dịch não tủy và chức năng đệm của nó

Chức năng chính của dịch não tủy là lót đệm cho não trong hộp sọ cứng. Não và dịch não tủy có cùng trọng trượng riêng (chỉ khác biệt 4%), do đo não nổi trong dịch não tủy.