Điều dưỡng truyền nhiễm

Chăm sóc và theo dõi diễn biến, triệu chứng, tiến triển và biến chứng, phòng lây nhiễm một số bệnh truyền nhiễm thường gặp, thực hành y lệnh chăm sóc, điều trị, dinh dưỡng và vệ sinh thân thể

  • Chăm sóc người bệnh dại lên cơn

    Các thú hoang như chồn, gấu trúc (Raccoons), dơi và các thú nuôi trong gia đình (chó, mèo) truyền virus khi chúng cắn người

  • Chăm sóc người bệnh sốt rét

    Môi trường thuận lợi về sinh địa cánh cũng như ý thức kém làm tăng tiếp xúc giữa người và muỗi Anophcdcs sp là nguvên nhân gia tăng số người mắc bệnh.

  • Chăm sóc người bệnh sởi

    Bệnh dễ phát thành dịch theo chu kỳ 2 - 4 năm một lẩn. Tuy nhiên, người ta vẫn gập bệnh khắp nơi và quanh năm, mùa mưa nhiều hơn mùa nấng.

  • Chăm sóc người bệnh AIDS (suy giảm miễn dịch)

    Dưới kính hiến vi điện tử nó là 1 phần tử có đường kính 110nm, có vỏ bọc với 1 nhân chứa ARN và các protein bên trong.

  • Chăm sóc người bệnh quai bị

    Virus xâm nhập đường hô hấp trên, sau đó theo đường máu đến tuyến nước bọt, tinh hoàn, buồng trứng, tuỵ tạng và trong một số trường hợp lên cá màng não.

  • Chăm sóc người bệnh cúm

    Virus có mặt trong các hạt chất tiết đường hô hấp khi người bệnh hắt hơi, ho... Virus có mặt rất sớm, đạt cao nhất sau 48 giờ, sau giảm nhanh.

  • Chăm sóc người bệnh thủy đậu

    Virus thủy đậu xâm nhập vào cơ thể ở đường hô hấp trên, sinh sản ở đó rồi vào máu. Virus theo dòng máu đến cư trú ở da và niêm mạc làm phát sinh những nốt mọng nước nhỏ như hạt đậu.

  • Chăm sóc người bệnh bại liệt

    Virus chí có khá năng ra ngoài theo đường hỏ hấp trong vòng 1 tuần, nhưng thải qua phân tới 2-3 tháng, virus thải ra mạnh nhất vào tháng đầu tiên kể từ khi bị bệnh.

  • Chăm sóc người bệnh sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue

    Người bệnh thể nhẹ và người mang virus Dengue không có triệu chứng là những nguồn truyền nhiễm rất nguy hiểm

  • Chăm sóc người bệnh viêm gan virus

    Nguồn bệnh là người bệnh và người mang virus B, HBsAg được tìm thấy trong máu và các dịch sinh học (nước bọt, nước mắt, tinh dịch, sữa mẹ, nước tiểu...).

  • Chăm sóc người bệnh lao phổi

    Điều kiện thuận lợi cho bệnh lao phát triển là ở những người thiếu hụt miễn dịch, suy nhược, lao động cực nhọc, dinh dưỡng thiếu

  • Chăm sóc người bệnh viêm não Nhật Bản B

    Bệnh lây theo đường máu do muỗi truyền (muỗi Culex, Aedes) muỗi nàv hoạt động mạnh ở vùng đồng bằng và trung du

  • Chăm sóc người bệnh viêm màng não mủ

    Viêm màng não mủ do não mô cầu hay phát sinh thành dịch ớ các nơi sinh hoạt tập thể, truyền theo đường hô hấp trên

  • Chăm sóc người bệnh uốn ván

    Clostridium Tetani là một trực khuẩn Gram (+), ở ngoại cảnh nó tồn tại dưới dạng nha bào, sống nhiều năm trong đất

  • Chăm sóc người bệnh nhiễm xoắn khuẩn leptospira

    Tìm vi khuẩn trong máu, nước tiểu, dịch não tủy bằng cách soi dưới kính hiển vi nền đen hoặc sau khi nhuộm ngấm bạc. Cấy máu, dịch não túy tốt nhất là làm trong 10 ngày đầu.

  • Chăm sóc người bệnh ho gà

    Trẻ bị bệnh thải vi khuẩn qua đường hô hấp, nhiều nhất ở thời kỳ khởi phát. Các hạt nước bọt li ti có khả năng lây truyền cao trong gia đình, trong các trường học.

  • Chăm sóc người bệnh bạch hầu

    Huyết thanh kháng độc tố: Dùng sớm, liều lượng 10.000 - 80.000 đơn vị, tiêm làm 2 lần, cách 30 phút, thay đổi tuỳ theo độ nặng nhẹ của bệnh.

  • Chăm sóc người bệnh lỵ amip

    Bệnh xảy ra khi người nuốt phải kén (theo thức ăn bị nhiễm kén). Khi vào cơ thể kén theo thức ăn xuống ruột, vỏ kén bị phá hủy bởi men Trypsine.

  • Chăm sóc người bệnh lỵ trực trùng (khuẩn)

    Shigella dễ dàng vượt qua hàng rào acid của dạ dày. Qua ruột non và tăng sinh trong niêm mạc ruột già, gây phản ứng viêm cấp tính. Lớp tế bào thượng bì chứa vi khuẩn sẽ bị huỷ hoại, tróc ra, tạo nên các ổ loét nông trên nền niêm mạc viêm lan toả.

  • Chăm sóc người bệnh tả

    Vi khuẩn tồn tại khá lâu ở môi trường bên ngoài, nhiễm vào các thực phẩm như cá, tôm, cua, sò ốc, từ đó xâm nhập vào người khác khi họ ăn các thức ăn nấu chưa kỹ.

  • Chăm sóc người bệnh thương hàn

    Vi khuẩn theo phân, nước tiểu của người bệnh ra ngoại cảnh từ tuần thứ hai trở đi. Những người mang mầm bệnh là nguồn lây nguy hiểm, ít được để ý.

  • Điều dưỡng trong hội chứng nhiễm trùng và choáng nhiễm trùng

    Sốt là một dấu hiệu thường gặp nhất. Sốt là biểu hiện tốt của cơ thể trước sự xám nhập của vi khuẩn, virus... Nó làm tăng phản ứng nhiễm khuẩn của cơ thể.

  • Đại cương điều dưỡng bệnh truyền nhiễm

    Bệnh có thể lui từ từ hay đột ngột, sự phục hồi lâm sàng thường xuất hiện sớm hơn ở mô, có thể xảy ra bội nhiễm hoặc có bộc phát một bệnh tiềm ẩn từ trước do sự suy yếu của cơ thể.