Những vấn đề cơ bản chăm sóc trước đẻ

Ngày: 10 - 12 - 2016

Chăm sóc trước đẻ nên bắt đầu sớm và duy trì đều đặn trong thời kỳ từ 0 đến 28 tuần thì khám 4 tuần 1 lần, 28 - 36 tuần: 2 tuần một lần; 36 tuần trở đi: khám hàng tuần.

Sau khi xác định có thai thăm khám đầu tiên trước khi sinh cần tiến hành càng sớm càng tốt và bao gồm các bước sau đây.

Bệnh sử

Tuổi, dân tộc, nghề nghiệp. Bắt đầu của kỳ kinh cuối và tính chất bình thường của nó, thời điểm có thể thụ thai, chảy máu sau kỳ kinh cuối, tiền sử bệnh tật, tất cả những lần thai nghén trước (thời kỳ thai nghén, kết quả, và những biến chứng), triệu chứng của lần thai nghén này. Hỏi về sử dụng thuốc ngủ, rượu, thuốc lá, cà phê, thói quen ăn uống. Tiền sử gia đình về dị dạng bẩm sinh và những bệnh di truyền.

Thăm khám thực thế

Đo chiều cao, cân nặng, huyết áp, khám toàn cơ thể, khám bụng và khung chậu để: (1) Đánh giá kích thước tử cung hoặc đo chiều cao đáy tử cung; (2) Đánh giá xương chậu về sự cân đối và phát triển đầy đủ; (3) Đánh giá cổ tử cung về cấu trúc giải phẫu, viêm nhiễm, xoá hay mở cổ tử cung; (4) Phát hiện tiếng tim thai bằng siêu âm sau 6 tuần hoặc bằng máy Doppler sau 10 tuần.

Xét nghiệm

Xét nghiệm nước tiểu, nuôi cấy mẫu nước tiểu sạch giữa dòng, đếm máu toàn phần với chỉ số so sánh hồng cầu, thử nghiệm huyết thanh học về giang mai, định giá kháng thể rubella, nhóm máu, loại Rh, sàng lọc kháng thể không điển hình, và đánh giá yếu tố kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg). Nên sàng lọc virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) cho tất cả phụ nữ mang thai.

Nếu có chỉ định về mặt lâm sàng cần cấy bệnh phẩm ở cổ tử cung tìm lậu cầu, khuẩn chlamydia, cùng với làm plìiến đồ Papanilolaou của cổ tử cung. Điện di hemoglobin cho những phụ nữ thiếu máu da đen hoặc gốc Địa Trung Hải (Hb S, C, F) và đối với phụ nữ châu Á (HbA2). Phản ứng lao trong da được tăng cường chỉ định. Tư vấn di truyền bằng cách lấy mẫu một phần nhung mao lá nuôi hoặc phần tích di truyền nước ối nên được đặt ra cho tất cả phụ nữ sinh đẻ ở độ tuổi 35 hoặc lớn hơn và những người đã có con trước đây bị bất thường về nhiễm sắc thể. Nên sàng lọc máu theo Tay - Sachs cho những phụ nữ Do Thái lấy chồng Do Thái.

Những phụ nữ mang thai làm công việc chăm sóc và điều trị bệnh răng hoặc lĩnh vực công cộng và những người tiếp xúc với người mang virus viêm gan B hoặc bệnh nhân thẩm phân lọc máu mà HBsAg âm tính tại thời điểm xét nghiệm sàng lọc trước đẻ là những người có nguy cơ cao nhiễm virus viêm gan B. Họ cần được tiêm vac xin trong thời kỳ mang thai.

Lời khuyên đối với bệnh nhân

Thăm khám trước đẻ

Chăm sóc trước đẻ nên bắt đầu sớm và duy trì đều đặn trong thời kỳ từ 0 đến 28 tuần thì khám 4 tuần 1 lần, 28 - 36 tuần: 2 tuần một lần; 36 tuần trở đi: khám hàng tuần.

Ăn uống

Ăn chế độ cân bằng chứa những nhóm thực phẩm quan trọng.

Sử dụng những vitamin có kèm sắt và acid folic trước đẻ

Trọng lượng cần tăng 20 - 40 pao (9 - 18kg). Không ăn kiêng để giảm trọng lượng trong khi cố thai.

Giảm sử dụng cafein xuống còn 0 - 1 tách cà phê, chè hoặc cô ca mỗi ngày.

Tránh ăn thức ăn sống hoặc chưa chín và rửa tay sau khi cầm thức ăn sống, chưa chín.

Ăn nhiều hoa quả tươi và rau xanh và rửa sạch trước khi ăn.

Sử dụng thuốc

Không dùng thuốc trừ khi thầy thuốc kê đơn hoặc cho phép.

Rượu và các thuốc khác

Kiêng rượu, thuốc lá và tất cả các thứ thuốc giải trí "đường phố". Đã xác định được mức độ không an toàn của rượu đối với thai nghén. Những phụ nữ hút thuốc nên bỏ hoặc ít nhất cũng giảm số điếu thuốc hút hàng ngày đến mức hút càng ít càng tốt.

X quang và tiếp xúc chất độc

Tránh tia X trừ trường hợp cần thiết và được thầy thuốc chấp nhận - Báo cho bác sĩ nha khoa và các bác sĩ khác là đang có thai để tránh rủi ro do hóa chất hoặc phóng xạ. Tránh nóng quá mức trong bồn tắm nóng hoặc buồng tắm hơi. Tránh đụng vào phân mèo hay ổ mèo. Đeo găng tay khi làm vườn.

Nghỉ ngơi và hoạt động

Cần được nghỉ ngơi thích hợp mỗi ngày. Tránh công việc hoặc hoạt động thể lực căng thẳng, đặc biệt khi cần phải nâng hoặc mang nặng. Tập thể dục đều đặn ở mức độ nhẹ đến trung bình. Tránh thể dục mệt quá hoặc môn thể thao nguy hiểm hoặc những chương trình rèn luyện điền kinh mới trong lúc mang thai. Nên giữ nhịp tim dưới 140 lần/phút trong khi tập.

Những đồ dùng cho sinh đẻ

Khuyến khích người chồng cùng chịu trách nhiệm chuẩn bị tốt đồ dùng cho quá trình sinh con trước thời gian dự kiến.

Những thủ nghiệm và thủ thuật

Mỗi lần thăm khám

Cân, đo huyết áp, đo chiêu cao đáy tử cung, đếm nhịp tim thai, lấy mẫu nước tiểu để xét nghiệm protein và đường. Hỏi những vấn đề liên quan của bệnh nhân với thai nghén, sức khoẻ và chế độ dinh dưỡng.

6 - 12 tuần

Xác định kích thước và độ lớn của tử cung qua thăm khám tiểu khung. Tiếng tim thai (có thể nghe được ở 10 - 12 tuần thai, bằng siêu âm Doppler). Khi cần có thể chỉ định lấy một mẫu nhung mao lá nuôi giữa 8 - 12 tuần.

12 - 18 tuần

Tư vấn di truyền học với những phụ nữ sinh đẻ ở 35 tuổi hoặc hơn, hoặc những người với tiền sử gia đinh bị các bệnh di dạng bẩm sinh; đứa trẻ trước đã bị bất thường thể nhiễm sắc, bệnh chuyển hóa hay khuyết tật ống thần kinh. Xét nghiệm nước ối được thực hiện khi có chỉ định và theo yêu cầu của bệnh nhân.

12 - 24 tuần

Thăm khám siêu âm thai khi được chi định để xác định ngày có thai hoặc đánh giá về mặt giải phẫu của thai. Thăm khám sớm giúp cho việc đánh giá thời điểm mang thai chính xác nhất, trong khi thăm khám về sau cho thấy giải phẫu thai nhi một cách chi tiết hơn. Cách giải quyết tốt nhất là lúc tuổi thai 18 - 20 tuần.

16 - 20 tuần

Người ta đề nghị thử alpha fetoprotein huyết thanh người mẹ cho tất cả các bà mẹ. Ở một số bang, thử nghiệm này là bắt buộc.

20 - 24 tuần

Chỉ dẫn cho bệnh nhân về những dấu hiệu và triệu chứng của chuyển dạ đẻ non và vỡ ối.

24 tuần đền lúc đẻ

Khám siêu âm được thực hiện khí có chỉ định. Điển hình, đánh giá kích thước và sự phát triển của thai khi chiều cao tử cung kém từ 2cm trở lên so với. tuổi thai dự kiến. Trong trường hợp đa thai, thì cứ 4 tuần nên làm siêu âm một lần để đánh giả sự phát triển không phù hợp.

26 - 28 tuần

Sàng lọc phát hiện những bệnh nhân đái tháo đường do thai nghén bằng cách uống 50g glucose (Glucola) và 1 giờ sau làm thử nghiệm Glucola thể xác định đường huyết. Nồng độ đường huyết dưới 140mg/dL là bình thường. Sự đánh giá bất thường sẽ được theo dõi bằng thử nghiệm dung nạp glucbse trong 3 giờ trừ khi thử nghiệm Glucola lớn hơn 200mg/dL, trong trường hợp đó thì chẩn đoán được khẳng định.

28 tuần

Làm lại thử nghiệm kháng thể đối với những bệnh nhân Rh âm tính, chưa giải cảm ứng. Nếu kháng thể Rh vẫn còn âm tính thì nên cho globulin miễn dịch Rh0 (D).

28 - 32 tuần

Xét nghiệm lại máu để đánh giá sự thiếu máu trong thời kỳ thai nghền. Việc nuôi cấy liên cầu nhóm B chỉ được thực hiện ở những bệnh nhân có nguy cơ đã được lựa chọn kể cả những bệnh nhân đó hiện đang chuyển dạ đẻ non hoặc vỡ màng ối hoặc với những thai phụ trước đó đẻ non hay là nhiễm khuẩn liến cầu nliđm B ở trẻ sơ sinh.

28 tuần đến lúc đẻ

Xác định hướng và ngôi thai. Hỏi bệnh nhân về các dấu hiệu và triệu chứng chuyển dạ đẻ non hoặc vỡ ối trong mỗi lần khám. Đánh giá sự nhận biết của người mẹ về cử động của thai qua mỗi lần thăm khám. Kiểm tra thai trước đẻ được thực hiện khi có chỉ định y tế.

36 tuần đến lúc đẻ

Lặp lại thử nghiệm HIV và cấy bệnh phẩm cổ tử cung để phát hiện lậu cầu khuẩn cho những bệnh nhân có nguy cơ. Thảo luận với bệnh nhận những chỉ báo của sự bắt đàu chuyển dạ, nhập viện theo dõi quản lý cuộc chuyển dạ đẻ và sự lựa chọn thuốc giảm đau và gây tê. Việc khám cổ tử cung hàng tuần là không cần thiết, trừ khi được chỉ định để đánh giá tình huống lâm sàng đặc biệt. Cuộc đẻ được lựa chọn (bằng chỉ huy hay là mổ lấy thai) 39 tuần thai nghén yêu cầu cần xác định mức độ trưởng thành của phôi thai nhi.

41 tuần trở đi

Thăm khám cổ tử cung để xác định khả năng gây chuyển dạ để thành công. Dựa và đó, mà cuộc đẻ chỉ huy được thực hiện nếu như cổ tử cung thuận lợi, nếu không thuận lợi thì đánh giá thai trước đẻ sẽ được bát đầu.

Bài xem nhiều nhất

Tiền sản giật và sản giật (chẩn đoán và điều trị)

Không có cách can thiệp nào tỏ ra là có giá trị để làm giảm tần suất xẩy ra hay tính nghiêm trọng của quá trình qua nghiên cứu một cách khách quan bao gồm lọt tiểu, chế độ ăn hạn chế hoặc tăng cao, hạn chế muối, và bổ sung vitamin khoáng.

U nguyên bào nuôi do thai (chửa trúng và ung thư nguyên bào nuôi)

Chửa trứng bán phần có xu hướng theo sau là giai đoạn lành tính, trong khi chửa trứng toàn phần có khuynh hướng đa số trở thành ung thư nguyên bào nuôi.

Sẩy thai tự nhiên (chẩn đoán và điều trị)

Vào khoảng một phần tư các trường hợp, nguyên nhân sẩy thai không thể xác định được. Hiện nay không có chứng cớ rằng đầu máy video hoặc lĩnh vực điện tử phối hợp liên quan đến vấn đề tăng nguy cơ sẩy thai tự nhiên.

Chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt thai nghén

Những biểu hiện thai và triệu chứng sau thường do thai nghén gây ra, nhưng không có dấu hiệu nào dùng để chẩn đoán được. Việc ghi nhận thời gian và tần suất giao hợp giúp ích cho việc chẩn đoán và xác định thời gian có thai.

Chửa ngoài tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Xét nghiệm máu có thể cho thấy thiếu máu và hơi tăng bạch cằu. Thử nghiệm thai nghén định lượng trong huyết thanh nói chung cho thấy có mức độ thấp hơn so với thai nghén bình thường cùng tuổi thai.

Dinh dưỡng trong khi có thai

Những chất rỗng calo nên tránh, và chế độ ăn nên chứa những thức ăn sau: thực phẩm protein nguồn gốc động vật và thực vật, sữa và các sản phẩm của sữa, tất cả các loại ngũ cốc, bánh mì và hoa quả, rau, đặc biệt là rau xanh.

Cho con bú (nuôi con bằng sữa mẹ)

Cho bú thường xuyên đòi hỏi phải có giờ giấc để tăng cường tiết sữa và cho bú có kết quả. Việc nuôi dưỡng bằng sữa mẹ giúp ích về mặt thời gian, đầu tiên, được các thầy thuốc, y tá và các bà mẹ nuồi con bằng sữa mẹ ủng hộ.

Viêm vú hậu sản (chẩn đoán và điều trị)

Viêm vú thường bắt đầu trong vòng ba tháng sau đẻ và có thể bắt đâu với một vết thương hay nứt núm vú. Có sự viêm mô tế bào rõ ràng ở vùng tổ chức vú, với biểu hiện đỏ, sưng, nóng tại chỗ và sốt.

Đề phòng chuyển dạ đẻ non (chẩn đoán và điều trị)

Giáo dục bệnh nhân để nhận biết những cơn co tử cung đều đặn thường xuyên bằng cách báo động cho nhân viên y tế để đánh giá những bệnh nhân hây sớm và bắt đầu điều trị sẽ hạ thấp tỷ lệ đẻ non, nếu như những biến đổi cổ tử cung có thể được nhận thấy.

Nôn trong thai nghén (nôn vào buổi sáng nặng ác tính)

Nôn nặng, dai dẳng trong khi có thai gọi là chứng nôn nghén nặng, có thể làm cho kiệt quệ cần phải nằm viện. Sự mất nước, nhiễm toan, suy dinh dưỡng có thể phát triển cùng với sự nôn mửa kéo dài.

Những vấn đề cơ bản chăm sóc trước đẻ

Chăm sóc trước đẻ nên bắt đầu sớm và duy trì đều đặn trong thời kỳ từ 0 đến 28 tuần thì khám 4 tuần 1 lần, 28 - 36 tuần: 2 tuần một lần; 36 tuần trở đi: khám hàng tuần.

Đề phòng huyết tán của trẻ sơ sinh (bệnh nguyên hồng cầu thai nhi)

Những phần tử kháng thể quá lớn không qua được qua rau thai và ảnh hưởng đến thai có Rh dương tính. Độ thanh thải globulin của người mẹ đủ thấp để tiếp tục bảo vệ được 12 tuần.

Chảy máu trong quý ba thai kỳ (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân nên được nằm viện và nghỉ ngơi tại giường liên tục theo dõi thai. Xét nghiệm máu toàn phần phải làm hai đến bốn nhóm máu đã phân nhóm và thử phản ứng chéo.

Sẩy thai liên tiếp (chẩn đoán và điều trị)

Sẩy thai liên tiếp là chấn đoán lâm sàng đúng hơn là chẩn đoán bệnh lý. Những dấu hiệu lâm sàng cũng tương tự như những điều được quan sát thấy ở các loại sẩy thai khác.

Du lịch và tiêm chủng trong khi có thai

Gama globulin lưu trữ để ngăn ngừa viêm gan A là an toàn và không mang lại nguy cơ lây truyền HIV. Chloroquin có thể được sử dụng đề phòng bệnh sốt rét trong khi mang thai, và proguanil cũng an toàn.