Chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt thai nghén

Ngày: 10 - 12 - 2016

Những biểu hiện thai và triệu chứng sau thường do thai nghén gây ra, nhưng không có dấu hiệu nào dùng để chẩn đoán được. Việc ghi nhận thời gian và tần suất giao hợp giúp ích cho việc chẩn đoán và xác định thời gian có thai.

Chẩn đoán thai nghén càng sớm càng có lợi, khi một phụ nữ đang ở độ tuổi hoạt động tình dục mất kinh hay có những triệu chứng gợi ý thai nghén. Trong trường hợp thai nghén mong muốn, có thể bắt đầu sớm chăm sóc trước đẻ về việc sử dụng thuốc và những hoạt động có hại như thuốc ngủ, rượu, thuốc lá, biểu hiện liên quan đến hóa chất nghề nghiệp có thể ngừng lại. Trong trường hợp thai nghén ngoài ý muốn, có thể tư vấn đình chí thai nghén vào giai đoạn sớm.

Các test thai nghén

Tất cả những test nước tiểu hoặc máu để xác định thai nghén đều dựa vào việc phát hiện hCG được chế tiểu bởi rau thai. Sau khi thụ thai (trứng làm tổ, lượng hCG tăng lên sớm, cứ sau 48 giờ tăng xấp xỉ hai lần, đạt tới đỉnh cao sau 50 - 75 ngày và hạ xuống mức độ thấp hơn vào quí hai và quí ba. Những test thai nghén ở phòng xét nghiệm và tại nhà bây giờ sử dụng những kháng thể đơn dòng đặc hiệu với hCG. Những test nước tiểu hoặc huyết thanh này tại thời điểm mất kinh hoặc sau đó ít lâu là chính xác.

So với chửa trong tử cung, chửa ngoài tử cung có lượng hCG có thể thấp hơn và giữ nguyên mức đó hoặc giảm xuống trong một loạt các test thử liên tiếp. Xét nghiệm định lượng hCG lặp lại trong khoảng 48 đến 72 giờ được sử dụng trong chẩn đoán chửa ngoài tử cung, cũng như trong những trường hợp chửa trứng, doạ sẩy thai, thai chết lưu. Việc so sánh lượng hCG giữa các phòng thí nghiệm có thể mang lại kết quả không chính xác ở cùng một bệnh nhân bởi vì các mẫu thử nghiệm quốc tế khai thác dẫn đến thay đổi một trong hai yếu tố.

Những biểu hiện thai nghén

Những biểu hiện thai và triệu chứng sau thường do thai nghén gây ra, nhưng không có dấu hiệu nào dùng để chẩn đoán được. Việc ghi nhận thời gian và tần suất giao hợp giúp ích cho việc chẩn đoán và xác định thời gian có thai.

Triệu chứng

Chậm kinh, buồn nôn và nôn, cương tức và đau vú, đi tiểu vội, thường xuyên, "thai máy" (được nhận biết vào khoảng tuần lễ thứ 18), tăng cân.

Dấu hiệu

Vào nhiều tuần lễ kể từ kỳ kinh cuối cùng. Những thay đổi ở vú (to ra, xung huyết, tiết sữa non), bụng to lên, âm đạo và cổ tử cung sẫm mầu tím (tuần thứ bảy), cổ tử cung mềm (tuần thứ bảy), mềm đoạn eo tử cung (tuần thứ tám), thân tử cung to lên toàn bộ và mềm mại (sau tuần thứ tám).

Đáy tử cung có thể nắn được trên vệ vào 12 - 15 tuần kể từ ngày kinh cuối cùng và lên tới rốn vào 20 - 22 tuần. Tiếng tim thai có thể nghe thấy bằng siêu âm Doppler vào 10 - 12 tuần tuổi thai và vào khoảng 20 tuần nghe được bằng ống nghe tim thai thông thường.

Chẩn đoán phân biệt

Tử cung không có thai to ra dọ có u xơ có thể bị nhầm lẫn với tử cung có thai, nhưng nó thường là rất chắc và không đều. Có thể tìm thấy ở đường giữa một khối u buồng trứng đẩy tử cung không có thai sang một bên hay ra sau. Siêu âm và test thai nghén sẽ cho chẩn đoán chính xác trong những tình huống này.

Bảng. Những thuốc thông thường gây quái thai hoặc độc cho thai(1)

Thuốc chống co giật

Aminoglutethimid, ethotoin, phenytoin, paramethadion, trimethadion, acid valproic.

Thuốc chống đái tháo đường

Thuốc uống hạ đường huyết.

Thuốc điều trị tăng huyết áp

Diazoxid, các thuốc lợi tiểu thiazid, reserpin.

Thuốc chống ung thư

Tất cả các loại.

Các thuốc kháng giáp trạng

lod phóng xạ, propylthiouracil, methimazol.

Disultiram (Antabuse)

Ergotamin

Các hormon

Estrogen, diethylstilbestrol, progestin, androgen.

Isotretinoin (Accutane)

Những chất chống viêm không phải seroid vào quí ba

Các thuốc tâm thần

Lithium, benzodiazepin, khói thuốc lá.

Rượu

Thuốc diệt amíp

Carbarson

Các thuốc giảm đau, hạ nhiệt

Aspirin và các salicylat khác (vào qúi ba), thuốc ngủ (sữ dụng kéo dài).

Kháng sinh

Aminoglycosid, cloramphenicol, Tetracyclin, trimethoprim, Sulfonamid (vào quí ba).

Các thuốc chống nấm

Ketoconazol, Griseotulvin.

Các thuốc diệt ký sinh trùng

Lindan, mebendazol, Fansidar (sultadoxin và pyrimethamin, và các chế phẩm khác.

Các thuốc chống virus

Amantadin, ribavirin và các chế phẩm khác.

Các thuốc chống đông máu

Warfarin và các dẫn xuất Coumarin khác

(1) Ngoài ra còn có một số thuốc cũng có chống chỉ định trong khi có thai. Bất cứ với thuốc nào cũng cần cân nhắc vê tính cần thiết và những táb dụng dốl nghịch của nó. Có thể nhận dưdc thông tin chi tiết hdn về bất cứ thuốc nào bằng cách liên hệ với hãng sản xuất.

Bài xem nhiều nhất

Tiền sản giật và sản giật (chẩn đoán và điều trị)

Không có cách can thiệp nào tỏ ra là có giá trị để làm giảm tần suất xẩy ra hay tính nghiêm trọng của quá trình qua nghiên cứu một cách khách quan bao gồm lọt tiểu, chế độ ăn hạn chế hoặc tăng cao, hạn chế muối, và bổ sung vitamin khoáng.

U nguyên bào nuôi do thai (chửa trúng và ung thư nguyên bào nuôi)

Chửa trứng bán phần có xu hướng theo sau là giai đoạn lành tính, trong khi chửa trứng toàn phần có khuynh hướng đa số trở thành ung thư nguyên bào nuôi.

Sẩy thai tự nhiên (chẩn đoán và điều trị)

Vào khoảng một phần tư các trường hợp, nguyên nhân sẩy thai không thể xác định được. Hiện nay không có chứng cớ rằng đầu máy video hoặc lĩnh vực điện tử phối hợp liên quan đến vấn đề tăng nguy cơ sẩy thai tự nhiên.

Chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt thai nghén

Những biểu hiện thai và triệu chứng sau thường do thai nghén gây ra, nhưng không có dấu hiệu nào dùng để chẩn đoán được. Việc ghi nhận thời gian và tần suất giao hợp giúp ích cho việc chẩn đoán và xác định thời gian có thai.

Chửa ngoài tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Xét nghiệm máu có thể cho thấy thiếu máu và hơi tăng bạch cằu. Thử nghiệm thai nghén định lượng trong huyết thanh nói chung cho thấy có mức độ thấp hơn so với thai nghén bình thường cùng tuổi thai.

Dinh dưỡng trong khi có thai

Những chất rỗng calo nên tránh, và chế độ ăn nên chứa những thức ăn sau: thực phẩm protein nguồn gốc động vật và thực vật, sữa và các sản phẩm của sữa, tất cả các loại ngũ cốc, bánh mì và hoa quả, rau, đặc biệt là rau xanh.

Cho con bú (nuôi con bằng sữa mẹ)

Cho bú thường xuyên đòi hỏi phải có giờ giấc để tăng cường tiết sữa và cho bú có kết quả. Việc nuôi dưỡng bằng sữa mẹ giúp ích về mặt thời gian, đầu tiên, được các thầy thuốc, y tá và các bà mẹ nuồi con bằng sữa mẹ ủng hộ.

Viêm vú hậu sản (chẩn đoán và điều trị)

Viêm vú thường bắt đầu trong vòng ba tháng sau đẻ và có thể bắt đâu với một vết thương hay nứt núm vú. Có sự viêm mô tế bào rõ ràng ở vùng tổ chức vú, với biểu hiện đỏ, sưng, nóng tại chỗ và sốt.

Đề phòng chuyển dạ đẻ non (chẩn đoán và điều trị)

Giáo dục bệnh nhân để nhận biết những cơn co tử cung đều đặn thường xuyên bằng cách báo động cho nhân viên y tế để đánh giá những bệnh nhân hây sớm và bắt đầu điều trị sẽ hạ thấp tỷ lệ đẻ non, nếu như những biến đổi cổ tử cung có thể được nhận thấy.

Nôn trong thai nghén (nôn vào buổi sáng nặng ác tính)

Nôn nặng, dai dẳng trong khi có thai gọi là chứng nôn nghén nặng, có thể làm cho kiệt quệ cần phải nằm viện. Sự mất nước, nhiễm toan, suy dinh dưỡng có thể phát triển cùng với sự nôn mửa kéo dài.

Những vấn đề cơ bản chăm sóc trước đẻ

Chăm sóc trước đẻ nên bắt đầu sớm và duy trì đều đặn trong thời kỳ từ 0 đến 28 tuần thì khám 4 tuần 1 lần, 28 - 36 tuần: 2 tuần một lần; 36 tuần trở đi: khám hàng tuần.

Đề phòng huyết tán của trẻ sơ sinh (bệnh nguyên hồng cầu thai nhi)

Những phần tử kháng thể quá lớn không qua được qua rau thai và ảnh hưởng đến thai có Rh dương tính. Độ thanh thải globulin của người mẹ đủ thấp để tiếp tục bảo vệ được 12 tuần.

Chảy máu trong quý ba thai kỳ (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân nên được nằm viện và nghỉ ngơi tại giường liên tục theo dõi thai. Xét nghiệm máu toàn phần phải làm hai đến bốn nhóm máu đã phân nhóm và thử phản ứng chéo.

Sẩy thai liên tiếp (chẩn đoán và điều trị)

Sẩy thai liên tiếp là chấn đoán lâm sàng đúng hơn là chẩn đoán bệnh lý. Những dấu hiệu lâm sàng cũng tương tự như những điều được quan sát thấy ở các loại sẩy thai khác.

Du lịch và tiêm chủng trong khi có thai

Gama globulin lưu trữ để ngăn ngừa viêm gan A là an toàn và không mang lại nguy cơ lây truyền HIV. Chloroquin có thể được sử dụng đề phòng bệnh sốt rét trong khi mang thai, và proguanil cũng an toàn.