Chế độ ăn bổ xung dinh dưỡng trị liệu

Ngày: 2/25/2016 11:16:10 PM

By member of dieutri.vn

Chất xơ trong chế độ ăn là một nhóm nhiều loại thực vật khác nhau và hệ tiêu hóa của người không tiêu hóa được. Chế độ ăn điển hình của người Mỹ có khoảng 5 - 10g chất xơ từ thức ăn mỗi ngày.

Những chế độ ăn trị liệu đặc hiệu cơ thể được lập ra để tạo điều kiện cho xử trí y học các bệnh thường gặp nhất. Trong hầu hết các trường hợp, tư vấn với thầy thuốc chuyên khoa dinh dưỡng là cần thiết để lập ra và thực hiện những thay đổi chính trong chế độ ăn. Người thầy thuốc cần làm quen với những chỉ định cho chế độ ăn đặc hiệu và thành phần cơ bản của chế độ ăn để tạo thuận lợi cho việc tham khảo và tăng tối đa sự thực hiện của bệnh nhân. Chế độ ăn trị liệu là mọi quá trình khó thực hiện và không phải tất cả bệnh nhân đều có thể hợp tác đầy đủ. Đề nghị bệnh nhân ghi lại chế độ ăn trong 3 - 5 ngày có thể giúp hiểu được sự vận chuyển ruột của bệnh nhân.

Những chế độ ăn trị liệu có thể được chia thành 3 nhóm: 1. chế độ ăn thay đổi độ đặc của thức ăn; 2. chế độ ăn hạn chế hoặc thay đổi thành phần thức ăn; và 3. chế độ ăn bổ sung thành phần thức ăn.

Chế độ ăn nhiều chất xơ

Chất xơ trong chế độ ăn là một nhóm nhiều loại thực vật khác nhau và hệ tiêu hóa của người không tiêu hóa được. Chế độ ăn điển hình của người Mỹ có khoảng 5 - 10g chất xơ từ thức ăn mỗi ngày. Bằng chứng dịch tễ học gợi ý rằng những ai tiêu thụ lượng chất xơ lớn hơn sẽ có tỷ lệ mới mắc các bệnh đường tiêu hóa thấp hơn, bao gồm cả viêm túi thừa và ung thư đại tràng. Hầu hết các tác giả hiện nay đều khuyên dùng nhiều chất xơ hơn trong chế độ ăn để duy trì sức khỏe.

Chế độ ăn nhiều chất xơ (20 - 25g/ngày) cũng thường được áp dựng trong xử trí nhiều loại rối loạn dạ dày ruột khác nhau đặc biệt là hội chứng ruột kích thích và viêm túi thừa tái phát. Chế độ ăn giàu chất xơ cũng có thể được áp dụng để làm giảm đường máu ở những bệnh nhân đái tháo đường và làm giảm mức cholesterol ở những bệnh nhân tăng cholesterol huyết. Những chế độ ăn như vậy bao gồm nhiều hoa quả tươi và rau tươi, ngũ cốc nguyên dạng (lứt), đậu và các loại hạt, các sản phẩm làm từ cám. Với một số bệnh nhân bổ sung hạt mã đề bọ chét (2 thìa cà phê/ngày) hoặc cám tự nhiên (1/2 cốc/ngày) có thể là thích hợp hơn.

Chế độ ăn giàu kali

Chế độ ăn bổ sung kali được sử dụng rộng rãi nhất để bù cho kali bị mất do các thuốc lợi niệu. Mặc dù mất kali có thể được ngăn ngừa phần nào bằng việc sử dụng những liều thấp hơn thuốc lợi niệu, đồng thời hạn chế natri, và dùng các thuốc lợi niệu không thải kali, nhưng một số bệnh nhân vẫn cần bổ sung kali để ngăn ngừa giảm kali máu. Chế độ ăn giàu kali có thể cũng có ảnh hưởng hạ áp trực tiếp. Chế độ ăn điển hình của người Mỹ chứa khoảng 3g (80 mEq) kali mỗi ngày. Chế độ ăn giàu kali thường có 4,5 - 7g (120 - 180 mEq) kali mỗi ngày.

Hầu hết các loại quả, rau, và nước ép của chúng đều có nhiều kali. Cũng có thể cung cấp kali bổ sung bằng chất thay thế muối chứa kali (tới 20 mEq trong nữa thìa cà phê) hoặc kali Chlorid trong dung dịch hoặc viêm nang, nhưng chế phẩm này hiếm khi cần thiết nếu các phương pháp trên được tiến hành để ngăn ngừa sự mất kali và bổ sung kali từ chế độ ăn.

Chế độ ăn giàu calci

Bổ sung calci vào chế độ ăn hiện được khuyên dùng để ngăn ngừa loãng xương sau mãn kinh, ngăn ngừa và điều trị tăng huyết áp, ngăn ngừa ung thư đại tràng. Mặc dù bằng chứng trong mỗi trường hợp là sơ bộ nhưng các tác giả khuyên dùng 1g calci mỗi ngày cho hầu hết những người trưởng thành và 1,5 g/ngầy cho phụ nữ sau mãn kinh. Chế độ ăn của người Mỹ hiện nay là xấp xỉ 700 mg/ngày.

Các sản phẩm sữa không có chất béo và ít chất béo là nguồn calci chính. Những bệnh nhân không dung nạp lactose không thể dùng các sản phẩm sữa dạng lỏng nhưng có thể dung nạp các sản phẩm sữa ngoài dạng lỏng như format và sữa chua. Rau lá xanh và cá hộp có cả xương cũng chứa hàm lượng calci cao, mặc dù cá hộp rât nhiều natri.