- Trang chủ
- Sách y học
- Các bài thuốc đông y hiệu nghiệm
- Tiêu thạch phàn thạch tán
Tiêu thạch phàn thạch tán
Bài này phối hợp dùng Tiêu thạch và Phàn thạch để phá cứng tán kết, hóa ứ tiêu tích, thuộc loại phương thuốc tiêu cứng phá tích.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Thành phần
1. Tiêu thạch (hỏa tiêu).
2. Phàn thạch (lục phàn).
Cách dùng
Lấy vị thuốc trên nghiền nhỏ chế thành thuốc tán, uống với nước cháo Đại mạch. Hiện nay lâm sàng ứng dụng, thường dùng Huyền minh phấn hoặc Mang tiêu, dùng ít hỏa tiêu, nhào với hồ bột làm hoàn hoặc phiến, nuốt uống, mỗi phiến trọng lượng một phần, mỗi lần 3-5 phiến, ngày dùng 2-3 lần, sau khi ăn cơm dùng thuốc là tốt.
Công dụng
Tan sỏi phá cứng, lợi đởm.
Chữa chứng bệnh
Sỏi mật.
Giải bài thuốc
Bài này phối hợp dùng Tiêu thạch và Phàn thạch để phá cứng tán kết, hóa ứ tiêu tích, thuộc loại phương thuốc tiêu cứng phá tích. Dùng nước cháo Đại mạch uống thuốc là có ý làm giảm tác dụng kích thích của hai vị thuốc đối với đường tiêu hóa. Bài này vốn chữa bệnh hắc đản (tức là bệnh Hoàng đản nặng), hiện nay trong điều trị dùng để tiêu sỏi mật có hiệu quả nhất định. Dùng bài này có thể phối hợp dùng cả thuốc thang, theo kinh nghiệm điều trị thường kết hợp dùng Tứ nghịch tán hoặc Tiêu dao tán thêm 40-80 gam Kim tiền thảo, Kê nội kim 16-32 gam (nuốt).
Phụ phương
Khu hồi thang số 2:
Là phương thuốc thực nghiệm của bệnh viện Nam Khai - Thiên Tân, thích hợp với bệnh giun bị chết ở ống mật.
Gồm các vị Sài hồ, Nhân trần, Mẫu lệ, Chi tử, Mộc hương, Chỉ xác, Uất kim, Khô phàn, táo thành đại tiện bí thêm Sinh đại hoàng.
Toàn bài có tác dụng lợi đởm, hóa trùng, bài thải mà tác dụng bài thải giun chết trong ống mật chủ yếu dựa vào Khô phàn (tức phèn chua phi lên). Còn bài Tiêu thạch phàn thạch tán tiêu sỏi mật thì dùng phèn xanh. Phèn chua đều có thể tiêu tích nhưng mỗi thứ có tác dụng riêng.
Lợi đởm hoàn:
Bài thuốc thực nghiệm của học viện trung y.
Gồm các vị Nhân trần 4 lạng, Long đởm thảo, Uất kim, Mộc hương, Chỉ xác mỗi thứ 3 lạng, nghiền nhỏ, gia nước mật lợn tươi, hoặc nước mật bổ hoặc nước mật dê 1 cân, phải cô nước mật đặc còn 1/2 cân, cho thuốc vào, gia thêm ít mật ong chế thành hoàn, mỗi lần dùng 3 gam, uống với nước đun sôi, sớm tối một lần, có tác dụng lợi đởm tiêu sỏi, uống liền một tháng, ngừng uống 1 tuần lại uống tiếp đợt 2.
Bài viết cùng chuyên mục
Thiếu phúc trục ứ thang
Phương này lấy bài Thất tiếu tán (Bồ hoàng, Ngũ linh chi) phối ngũ với Khung, Quy làm chủ yếu, lại gia Huyền hồ.
Tăng dịch thang
Bài này nguyên chữa do nhiệt bệnh mà hao tổn tân dịch dẫn đến đại tiện bí kết khác với bài Thừa khí thang công hạ, thích hợp với chứng.
Hoàng liên giải độc thang
Bài này dùng 3 vị Hoàng cầm, Hoàng liên, Hoàng bá có được tính khổ hàn để tả thực nhiệt ở Thượng trung, hạ tiêu lại phối hợp với Chi tử.
Tang cúc ẩm
Trong thuốc thanh nhiệt chỉ dùng Liên kiều mà chưa dùng Ngân hoa thì tác dụng thanh nhiệt cũng yếu; về thuốc thông phế ghép.
Giao ngải thang
Chủ phương trị chứng băng lậu và an thai cho phụ nữ. Quy, Địa, Khung, Thược là Tứ vật thang, công dụng bổ huyết điều kinh.
Giao thái hoàn
Chủ trị mất ngủ, khi đi nằm tinh thần hưng phấn tâm hồi hộp không yên, không nằm được. Ban ngày đầu hôm (như mê) hay buồn ngủ.
Huyết phủ trục ứ thang
Phương này là hợp phương của Đào hồng tứ vật thang với Tứ nghịch tán (Sài, thược, chỉ thực, Cam thảo) lại gia thêm Cát cánh, Ngưu tất.
Tam tử thang (tam tử dưỡng thân thang)
Tô tử giáng khí hóa đàm, Bạch giới tử ôn phế hóa đàm, Lai phục tử tiêu thực hóa đàm, là thuốc hóa đàm chủ yếu để trị ho đờm nhiều.
Ngoại khoa thiềm tô hoàn
Mỗi lần 3-5 viên, ngày 1-2 lần với nước nóng, dùng ngoài hòa giấm dồ chỗ đau. Công dụng: Tiêu sang.
Đại hoàng mẫu đơn thang
Chứng Trường ung, theo y học của Tổ quốc cho rằng do nhiệt độc ủng kết trong ruột, huyết ứ không tán mà thành bệnh. Bản phương dùng Đại hoàng thanh nhiệt giải độc, tả hỏa.
Tứ vật thang
Từ vật thang là phương thuốc bổ huyết kèm thêm hoạt huyết, người xưa nói nó là “phương thuốc chuyên về điều huyết can kinh”.
Ôn đảm thang
Đây là phương Nhị trần thang gia Chỉ thực, Trúc nhự, Đại táo. Chỉ thực phối với Bán hạ hóa đàm giáng nghịch tăng cường tác dụng của nhị trần.
Cam lộ tiêu độc đan
Bài này dùng Hoắc hương, Khấn nhâm, Thạch xương bồ để hóa thấp, dùng Hoạt thạch, Nhân trần, Mộc thông để lợi thấp, dùng Hoàng cầm, Xạ can, Liên kiều để thanh nhiệt giải độc.
Kiện tỳ ích khí thang
Bài này thường dùng trong lâm sàng là phương thuốc cơ sở của kiện tỳ ích khí, nhiều bài thuốc kiện tỳ bổ khí khác, thường từ đây mà biến hóa.
Đại cáp thang
Thanh đại thanh can hỏa. Hải cáp xác (vỏ con sò bể) hóa nhiệt đờm. Hai vị phối ngũ trị chứng can hỏa phạm phế, dẫn đến ho nghịch khí suyễn nhất định hiệu quả.
Thanh táo cứu phế thang
Đây là phương chủ yếu trị táo nhiệt thương phế. Tang diệp, Thạch cao thanh táo nhiệt. A giao, Mạch đông, Hạnh nhân dưỡng phế âm.
Tứ sinh hoàn
Tiên sinh địa lương huyết, dưỡng âm, giúp Trắc bá, Hà diệp thu liễm chỉ huyết. Ba vị này đều có tính hàn lương, đem phối ngũ với Ngải diệp.
Chích cam thảo thang
Bài này dùng Chích cam thảo, Nhân sâm để bổ ích tâm khí vì dùng nhiều Cam thảo nên gọi là Chích cam thảo thang. A giao.
Độc hoạt ký sinh thang
Tam tý thang: Tức là bản phương bỏ Ký sinh, gia Hoàng kỳ, Tục đoạn, tức là lấy bài Thập toàn đại bổ làm cơ sở và gia thuốc bổ can thận, khư phong thấp mà hợp thành. Cách trị cũng như phương trên, nhưng có Hoàng kỳ thì tác dụng bổ hư càng mạnh.
Bình vị tán
Đây là phương căn bản để táo thấp kiện tỳ. Trên lâm sàng, nếu rêu lưỡi dày nhớt mà hoạt nhuận, miệng không khát, tứ chi mỏi mệt, ngực bụng chướng đầy, đại tiện nhão là thấp thịnh dùng phương này rất hợp: Can, khương táo có thể bỏ.
Gia giảm thương truật thạch cao tri mẫu thang
Phương này lấy cơ sở làm bài Thương truật thạch cao tri mẫu thang (Tên cũ là: Thương truật bạch hổ thang gồm Thương truật, Thạch cao, Tri mẫu, Ngạnh mễ, Cam thảo) để hóa thấp, thanh nhiệt.
Ôn kinh thang
Trước đây, người ta cho phương này là tễ tiêu biểu cho các thứ thuốc điều kinh, phần nhiều gia giảm vận dụng cốt đạt và pháp, không câu nệ vào phương.
Phúc nguyên hoạt huyết thang
Phương này là thuốc uống thường dùng trong khoa chấn thương, chủ trị huyết ứ đình trệ gây các chứng ngực sườn đau tức
Hải tảo ngọc hồ thang
Hải tảo, Hải tai, Côn bố theo dược lý ngày nay phân tích, hàm chứa nhiều chất can xi, có tác dụng tiêu tan u bướu, là thuốc chủ của bài thuốc này.
Đương quy lục hoàng hoàn
Bài này dùng “Tam hoàng” tả hỏa, “Nhị địa” tư âm, Hoàng kỳ, Đương quy bổ khí huyết, cùng phối hợp chữa, có tác dụng tư âm thanh hỏa.
