Xét nghiệm tiêu bản tủy xương

2018-02-23 12:03 PM

Chọc hút tế bào đánh giá hình thái tế bào. Sinh thiết đánh giá tổng thể cấu trúc tủy, bao gồm mật độ tế bào. Sinh thiết nên tiến hành trước chọc hút tế bào để tránh sai sót trong bệnh phẩm.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Chọc hút tế bào

Chọc hút tế bào đánh giá hình thái tế bào. Sinh thiết đánh giá tổng thể cấu trúc tủy, bao gồm mật độ tế bào. Sinh thiết nên tiến hành trước chọc hút tế bào để tránh sai sót trong bệnh phẩm do chọc hút (chủ yếu là xuất huyết).

Chỉ định chọc hút tế bào

Thiếu máu do giảm sinh máu hoặc chưa rõ nguyên nhân, giảm bạch cầu, hoặc giảm tiểu cầu, nghi ngờ bệnh bạch cầu, u tủy hoặc suy tủy, đánh giá dự trữ sắt, chẩn đoán một số trường hợp sốt chưa rõ nguyên nhân.

Xét nghiệm chuyên khoa

Nhuộm hóa mô (bệnh bạch cầu), các xét nghiệm di truyền (bệnh bạch cầu, u lympho), vi sinh (vi khuẩn, mycobacteria, nấm), nhuộm Prussian xanh (sắt) (đánh giá dự trữ sắt, chẩn đoán thiếu máu nguyên hồng cầu).

Sinh thiết

Chỉ định sinh thiết

Bên cạnh chọc hút tế bào, sinh thiết được chỉ định trong giảm 3 dòng máu (thiếu máu bất sản tủy), u di căn, bệnh mô hạt (VD mycobacteria, brucella, histoplasma), xơ tủy nguyên phát, bệnh dự trữ mỡ (VD Gaucher, NiemannPick), bất kỳ trường hợp nào mà chọc hút tủy không ra được (“dry tap”); đánh giá mật độ tế bào tủy. Khi chỉ định đồng thời cả chọc hút tế bào và sinh thiết nên tiến hành sinh thiết trước để tránh chảy máu vị trí chọc hút làm sai lệch kết quả sinh thiết.

Xét nghiệm chuyên khoa

Nhuộm hóa mô (VD acid phosphatase trong ung thư tiền liệt tuyến di căn), nhuộm immunoperoxidase (VD immunoglobulin hoặc phát hiện marker bề mặt tế bào trong đa u tủy xương, bệnh bạch cầu hoặc u lympho; phát hiện lysozyme trong bệnh bạch cầu đơn nhân), nhuộm reticulin (tăng trong xơ tủy nguyên phát), nhuộm vi sinh (VD nhuộm acid-fast trong mycobacteria).

Nhận định kết quả

Mật độ tế bào. Được xác định bằng tỷ lệ phần trăm khoảng không gian chứa các tế bào tạo máu. Phần không gian còn lại thường là mỡ. Mật độ TB giảm theo tuổi, sau 65 tuổi, giảm từ khoảng 50% xuống còn 25–30% với lượng mỡ tăng tương ứng.

Tỷ lệ hồng cầu/bạch cầu hạt

Bình thường là 1:2, tỷ lệ hồng cầu/bạch cầu giảm trong các nhiễm trùng cấp và mạn tính, tăng bạch cầu phản ứng (VD viêm mạn tính, ung thư di căn), bệnh bạch cầu tủy cấp và mạn tính, các rối loạn sinh tủy (“tiền lơ xê mi”), và chứng bất sản hồng cầu đơn thuần; tăng trong mất bạch cầu hạt, thiếu máu có tăng sản hồng cầu (nguyên hồng cầu khổng lồ, thiếu sắt, thalassemia, xuất huyết, tan máu, thiếu máu nguyên hồng cầu), và tăng hồng cầu thứ phát (tăng sản hồng cầu quá mức); bình thường trong thiếu máu bất sản (dù giảm tế bào tủy xương), xơ tủy nguyên phát (giảm tế bào tủy), đa u tủy xương, u lympho, thiếu máu do bệnh mạn tính. Một số trung tâm dùng tỷ lệ tủy bào:hồng cầu; giá trị bình thường là 2:1 và tăng trong các bệnh tăng cường hoạt động tủy bào hoặc ức chế hoạt động dòng hồng cầu, giảm trong các bệnh ức chế hoạt động tủy bào hoặc tăng hoạt động dòng hồng cầu.

Bài viết cùng chuyên mục

Thiếu máu: nguyên lý nội khoa

Tiếp cận chẩn đoán theo phương diện sinh lý dựa vào sự hiểu biết về tình trạng giảm hồng cầu trong hệ tuần hoàn có liên quan đến tình trạng sản xuất không đủ hồng cầu.

Khám tâm thần

Ký ức xa hơn được đánh giá bằng khả năng cung cấp bệnh sử hay hoạt động sống cá nhân của bệnh nhân theo trình tự thời gian.

Đau lưng dưới: nguyên lý nội khoa

Đau tại chỗ gây nên bởi sự căng dãn các cấu trúc nhận cảm đau do đè nén hoặc kích thích đầu mút thần kinh; đau khu trú ở gần khu vực lưng bị tổn thương

X quang ngực: nguyên lý nội khoa

Được sử dụng kết hợp với thăm khám lâm sàng để hỗ trợ chẩn đoán suy tim sung huyết. X quang hỗ trợ chẩn đoán suy tim bao gồm tim to, tăng tưới máu vùng đỉnh phổi.

Khám vận động: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Đánh giá sức chi trên bằng sự trôi cơ sấp và lực của phản xạ cổ tay, ngón tay, Đánh giá sức chi dưới yêu cầu bệnh nhân đi lại bình thường, đi bằng gót chân, bằng ngón chân.

Xuất huyết tiêu hóa trên: nguyên lý nội khoa

Chất hút từ ống thông mũi-dạ dày có nhiều máu, nếu từ bệnh sử không rõ nguồn chảy máu, có thể âm tính giả lên đến 16 phần trăm nếu máu đã ngừng chảy hoặc chảy máu nguồn gốc ở tá tràng.

Chăm sóc trong những giờ cuối của bệnh nhân

Đặc biệt, bác sĩ cần tinh tế với cảm giác và sự tuyệt vọng của các thành viên trong gia đình. Họ nên yên tâm rằng bệnh đang đúng tiền trình của nó và sự chăm sóc của họ cho bệnh nhân không sai.

Say độ cao: nguyên lý nội khoa

Bệnh não có đặc điểm nổi bật là thất điều và thay đổi ý thức kèm tổn thương não lan tỏa nhưng nói chung không có dấu hiệu thần kinh khu trú.

Sốc nhiễm trùng với các biểu hiện ở da

Biểu hiện bóng xuất huyết với hoại tử và loét trung tâm và một vành ban đỏ trên bệnh nhân sốc nhiễm trùng do Pseudomonas aeruginosa hoặc Aeromonas hydrophila.

Phối hợp vận động và tư thế dáng bộ

Đánh giá cử động thay đổi nhanh của ngón tay, ngón chân, nghiệm pháp ngón tay chạm mũi, Quan sát bệnh nhân khi họ đi trên đường thẳng.

Tắc cấp động mạch thận: nguyên lý nội khoa

Nhồi máu thận rộng gây đau, buồn nôn, nôn, tăng huyết áp, sốt, protein niệu, đái máu, tăng lactat dehydrogenase và aspartate aminotransferase.

Cổ trướng: nguyên lý nội khoa

Đánh giá thường quy gồm khám toàn diện, protein, albumin, glucose, đếm và phân biệt tế bào, nhuộm Gram và nhuộm kháng acid, nuôi cấy, tế bào học; một số ca cần kiểm tra amylase.

Hội chứng nội tiết cận ung thư: nguyên lý nội khoa

Trong một số trường hợp, biểu hiện về nội tiết lại có ý nghĩa hơn bản thân khối u, như ở những bệnh nhân khối u lành tính hoặc ung thư tiến triển chậm tiết hormone CRH.

Đánh giá suy dinh dưỡng: nguyên lý nội khoa

Hai thể của suy dinh dưỡng thường gặp là marasmus, nó đề cập đến sự thiếu ăn xảy ra do giảm nhập năng lượng kéo dài, và kwashiorkor, đề cập đến suy dinh dưỡng có chọn lọc protein.

Ung thư thực quản: nguyên lý nội khoa

Trong nuốt khó chụp barit cản quang kép được sử dụng hữu ích như xét nghiệm đầu tiên, nội soi dạ dày thực quản ngược dòng là xét nghiệm nhạy và đặc hiệu nhất.

Rối loạn hệ thần kinh tự chủ: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Bệnh thần kinh ngoại biên ảnh hưởng đến sợi myelin và không myelin nhỏ của hệ giao cảm và đối giao cảm là nguyên nhân phổ biến nhất của suy tự chủ mạn.

Bướu cổ đa nhân độc và u tuyến độc: nguyên lý chẩn đoán và điều trị

Ngoài các đặc điểm của bướu cổ, biểu hiện lâm sàng của bướu cổ đa nhân độc bao gồm cường giáp dưới lâm sàng hoặc nhiễm độc giáp nhẹ

Biện pháp tránh thai: kế hoạch hóa gia đình

Thuốc ngừa thai khẩn cấp, chỉ chứa progestin hoặc kết hợp estrogen và progestin, có thể được sử dụng trong vòng 72h sau giao hợp không được bảo vệ.

Thiếu hụt vi dưỡng chất cần thiết: nguyên lý nội khoa

Liên quan tới nghiện rượu; luôn bù thiamine trước carbohydrate ở người nghiện rượu để tránh thiếu thiamine cấp, Liên quan tới suy dinh dưỡng protein năng lượng.

Tiếp cận bệnh nhân sốc: nguyên lý nội khoa

Mặc dù hạ huyết áp thì thường thấy được trong sốc, nhưng không có một ngưỡng huyết áp riêng nào để xác định được sốc. Sốc có thể là do giảm lưu lượng máu.

Viêm gan do thuốc và nhiễm độc

Liều và thời điểm khởi phát có thể thay đổi; một số nhỏ bệnh nhân phơi nhiễm bị ảnh hưởng, có thể sốt, phán ban, đau khớp, rối loạn bạch cầu ưa acid.

Nhuyễn xương: nguyên lý chẩn đoán điều trị

Trong nhuyễn xương tiến triển, có thể bị giảm calci máu do huy động canxi từ xương chưa khoáng hóa đầy đủ.

Một số vấn đề về độ cao

Đầy hơi, bụng trướng,trung tiên nhiều có thể do giảm áp xuất khí quyển. Tiêu chảy không liên quan đến độ cao nhưng có thể do vi khuẩn kí sinh trùng, một vấn đề phổ biến.

Chức năng đường tiêu hóa bình thường

Sự vận động của ruột già được điều hoà nhờ các nhu động tại chỗ để đẩy phân ra. Sự đi cầu được thực hiện nhờ cơ thắt trong hậu môn giãn để đáp ứng với trực tràng căng.

Ung thư tiền liệt tuyến: nguyên lý nội khoa

Với bệnh nhân đã đi căn xa, điều trị ức chế sản xuất androgen là 1 lựa chọn. Phẫu thuật cắt tinh hoàn có hiệu quả, nhưng hầu hết bệnh nhân thích dùng thuốc leuprolide.