Đau mặt
Đau mặt không có các triệu chứng điển hình của đau dây V thường là đau âm ỉ, rát bỏng khu trú ở một vùng sau đó nhanh chống lan ra các vùng khác của mặt cùng bên.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Đau dây thần kinh sinh ba (dây V)
Bệnh thường gặp ở tuổi trung niên, nữ nhiều hơn nam. Các cơn đau xuất hiện ngắn đột ngột, thường xuất hiện ở một bên miệng, sau đó lan ra tai, mắt, lỗ mũi ngoài cùng bên. Các yếu tố như sờ, cử động, uống thuốc có thể làm xuất hiện cơn đau hoặc cơn đau tăng lên. Vì vậy, để giảm khả năng xuất hiện cơn đau, rất nhiều bệnh nhân cố giữ chặt mắt khi nói. Cơn đau có thể giảm tự nhiên sau vài tháng hoặc lâu hơn. Khi bệnh tiến triển, khoảng cách giữa các cơn đau ngắn đi và giữa các cơn đau dữ dội, bệnh nhân vẫn đau âm ỉ. Vị trí đau thường ở một bên lan theo các nhánh của dây V thường là nhánh V2 hoặc nhánh V3.
Đau mặt do đau dây V cần phân biệt với đau mặt do các nguyên nhân khác. Thăm khám thần kinh không phát hiện bất thường trừ ở một số bệnh nhân đau dây V triệu chứng thần kinh không phát hiện bất thường trừ ở một số bệnh nhân đau dây V triệu chứng như trong bệnh xơ cứng rải rác hoặc u thân não, trong những trường hợp này dấu hiệu sẽ tùy thuộc vào bản chất và vị trí của tổn thương. Chụp CTScan và các kỹ thuật tiêm thuốc cản quang cho hình ảnh bình thường ở bệnh nhân đau dây V cổ điển.
Ở bệnh nhân trẻ tuổi đau dây V cần nghĩ đến bệnh xơ cứng rải rác thậm chí cả khi không có các triệu chứng thần kinh khác. Trong trường hợp này điện thế kích thích, xét nghiệm dịch não tủy giúp cho chẩn đoán xác định. Đau dây V do u hố sau thì chụp CTScan và MRI thường phát hiện được tổn thương.
Thuốc có hiệu quả nhất trong điều trị đau dây V là carbamazepin, liều tối đa 1200 mg/ngày cần theo dõi thường xuyên công thức máu, chức năng gan. Nếu carbamazepin không có tác dụng hoặc không dung nạp thì điều trị thử bằng phenytoin (liều lượng và tác dụng phụ của thuốc xem ở bảng). Baclofen (10 - 20 mg ngày 3 - 4 lần) cũng có thể có tác dụng khi dùng một mình hoặc phối hợp với carbamazepin hoặc phenytoin.
Trước kia, tiêm cồn hủy hạch, phẫu thuật cắt hạch, cắt nhánh cảm giác sau hạch được đề cập đến nếu điều trị nội khoa thất bại. Gần đây thường phát hiện thấy một số cấu trúc gây đau dây V ở vùng hố sau (mặc dù bình thường trên phim CTScan, MRI hoặc phim chụp mạch) như các bất thường của động mạch, tĩnh mạch ảnh hưởng đến rễ dây V. Trong trường hợp này phẫu thuật để loại bỏ ảnh hưởng của các bất thường mạch máu đến rễ dây V sẽ giảm được các triệu chứng lâu dài. Ở người già hủy hạch bằng tia xạ đôi khi được tiến hành vì dễ làm, ít biến chứng và giảm được triệu chứng trong một thời gian, cắt rễ cảm giác dây V bằng tia gamma là một phương pháp điều trị không gây chảy máu khác có tỷ lệ thành công ở 80% bệnh nhân và không có biến chứng. Không có chỉ định phẫu thuật điều trị đau dây V trong bệnh xơ cứng rải rác.
Đau mặt không điển hình
Đau mặt không có các triệu chứng điển hình của đau dây V thường là đau âm ỉ, rát bỏng khu trú ở một vùng sau đó nhanh chống lan ra các vùng khác của mặt cùng bên, đôi khi lan sang phía bên đối diện, xuống cổ, hoặc ra phía sau đầu. Bệnh thường gặp ở phụ nữ tuổi trung niên, nhiều người trong số đó có các triệu chứng trầm cảm nhưng không rõ trầm cảm là nguyên nhân hay là phản ứng. Nên điều trị thử bằng thuốc giảm đau thông thường, cũng như thuốc chống trầm cảm ba vòng carbamazepin, và phenytoin đáp ứng điều trị thường không ổn định. Các thuốc giảm đau từ chế phẩm thuốc phiện có nguy cơ gây nghiện ở những bệnh nhân này. Không có chỉ định phẫu thuật cho các trường hợp đau mặt không điển hình.
Đau dây thần kinh lưỡi - hầu (dây XII)
Đau dây XII là một bệnh ít gặp, mức độ đau tương tự đau dây V, thường đau ở họng, ở vùng amidan đôi khi đau ở sâu trong tai, gốc lưỡi. Đau có thể xuất hiện khi nhai, nuốt, nói hoặc khi ngáp, đôi khi có cơn ngất kèm theo. Trong hầu hết các trường hợp không tìm thấy tổn thương thực thể. Nên điều trị thử bằng carbamazepin (liều tối đa 1200 mg/ngày) trước khi đề cập đến việc điều trị bằng phẫu thuật.
Đau thần kinh sau herpes
Bệnh zona là do nhiễm virus varicella - zoster hệ thần kinh. Khoảng 15% bệnh nhân bị đau thần kinh sau zona. Biến chứng này rất hay xảy ra ở người già và khi zona ở nhánh V1. Tiền sử bị zona và sẹo trên da giúp cho chẩn đoán. Đau dữ dội trong khi bị bệnh tương ứng với triệu chứng đau sau zona.
Điều trị zona toàn thân bằng các corticosteroid, acyclovir, famciclovir không làm giảm tỷ lệ mắc đau sau zona. Điều trị đau mặt sau zona chủ yếu là điều trị nội khoa. Nếu các thuốc giảm đau thông thường không có tác dụng thì dùng thuốc chống trầm cảm ba vòng (ví dụ amitrỉptylin, tối đa 100 - 150 mg/ngày) phối hợp với phenothazin (ví dụ perphenazin 2 - 8 mg/ngày) thường có kết quả. Bôi kem capsaicin (ví dụ Zostrix 0,025%) tại chỗ có thể có tác dụng, có lẽ, do có tác dụng phân hủy các peptid gây đau trung gian ở các tế bào thần kinh cảm giác ngoại biên.
Đau mặt do các nguyên nhân khác
Đau mặt có thể do rối loạn khớp thái dương hàm ở bệnh nhân trật khớp cắn, khớp cắn bất thường, sâu răng. Có thể có tăng cảm giác đau cơ nhai và đau xuất hiện khi cử động hàm. Điều trị chủ yếu là điều trị nguyên nhân.
Đau mặt xuất hiện khi nhai hoặc khi ăn nóng lạnh gợi ý đến bệnh lý ở răng. Nguyên nhân đôi khi là không rõ ràng, để chẩn đoán bệnh cần phải khám kỹ răng và chụp X quang. Đau cơ nhai cũng có thể xảy ra trong viêm động mạch tế bào khổng lổ. Viêm xoang và nhiễm khuẩn tai gây ra đau mặt thường ở bệnh nhân có tiền sử nhiễm khuẩn đường hô hấp, sốt và đôi khỉ có chảy mủ tai. Có thể có tăng cảm giác đau khu trú. Trên phim chụp X quang có hình ảnh của viêm xoang hoặc viêm xương chũm.
Glocom là nguyên nhân quan trọng về mắt gây đau vùng mặt, thường là đau khu trú quanh khu vực nhãn cầu.
Đôi khi đau ở hàm là dấu hiệu chủ yếu của co thắt mạch vành. Cơn đau xảy ra khi gắng sức và lan đến các khu vực khác như trong co thắt vành.
Bài viết cùng chuyên mục
Phình động mạch nội sọ
Điều trị triệt để là phẫu thuật kẹp cuống túi phình. Nếu không thể phẫu thuật được, điều trị nội khoa như chảy máu dưới màng nhện trong khoảng 6 tuần và sau đó vận động dần dần.
Bệnh nhược cơ nặng
Bệnh nhân có biểu hiện sụp mi, song thị, khó nhai và khó nuốt, khó thở, yếu chi, hoặc phối hợp các triệu chứng này. Yếu cơ có thể chủ yếu khu trú ở nhóm cơ.
Nhồi máu não
Huyết khối mạch hoặc nghẽn mạch làm tắc một mạch máu lớn gây nên nhồi máu não. Nguyên nhân của nhồi máu não là hậu quả của thiếu máu não thoáng qua và xơ vữa của các động mạch não.
Hội chứng liệt chu kỳ
Ở thanh niên Châu Á, hội chứng này thường đi kèm hội chứng cường giáp, điều trị là cần điều chỉnh nội tiết trước và phòng cơn tái phát sau đó.
Xơ cứng rải rác từng đám
Biểu hiện đầu tiên thường gặp là yếu, tê bì, đau nhói hoặc khó chịu ở một chi liệt; cứng chi dưới; viêm thần kinh hậu nhãn cầu; nhìn đôi; mất thăng bằng.
Động kinh
Các rối loạn chuyển hóa như hạ calci máu, hạ đường máu, thiếu hụt pyridoxin, acid phenylpyruvic niệu là các nguyên nhân chính có thể điều trị được gây động kinh ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
U não nguyên phát
U não có thể gây ra các rối loạn chức năng não và các dấu hiệu của tăng áp lực nội sọ. Cuối cùng u não có thể gây thay đổi tính cách, trí tuệ, cảm xủc và gây động kinh, đau đầu, buồn nôn, mệt mỏi.
Biến chứng thần kinh không do di căn của bệnh ác tính
Rối loạn mạch máu não gây ra biến chứng thần kinh ở bệnh nhân ung thư hệ thống bao gồm viêm nội tâm mạc huyết khối không do nhiễm khuẩn và huyết khối nhiễm khuẩn.
Các rối loạn bệnh lý cơ
Các bệnh cơ ty lạp thể là một nhóm các rối loạn có biểu hiện lâm sàng đa dạng. Xét nghiệm mô bệnh học với phương pháp nhuộm Gomori cải tiến cho hình ảnh tổn thương đặc trưng.
Giật rung cơ
Giật cơ có thể đáp ứng với một số thuốc chống động kinh, đặc biệt là acid valproic hoặc một số thuốc nhóm benzodiazepin, đặc biệt là clonazepam.
Huyết khối tĩnh mạch nội sọ
Huyết khối tĩnh mạch nội sọ có thể xảy ra trong viêm nhiễm nội sọ hoặc vùng hàm mặt, tình trạng tăng đông, đa hồng cầu, bệnh hồng cầu hình liềm, tím do bệnh tim bẩm sinh, trong và sau sinh.
Một số bệnh thần kinh da
Hội chứng Sturge Weber là u mạch bẩm sinh ở da nửa trên của mặt thường là một bên. U mạch còn có thể ở màng não tủy và màng mạch. Bệnh ngang nhau ở hai giới và thường xảy ra lẻ tẻ.
Chẩn đoán yếu cơ và liệt cơ
Yếu cơ do tổn thương neuron I của đường vận động được đặc trưng bằng tổn thương khu trú một số nhóm cơ kết hợp với tăng trương lực, tăng phản xạ gân xương và có phản xạ duỗi gan bàn chân.
U tủy nguyên phát và di căn
Chụp cột sống thường có thể là bình thường. nhưng cũng có thể thấy bất thường của di căn, chụp cắt lớp tủy, và cộng hưởng từ tủy, để chẩn đoán xác định u tủy và vị trí chèn ép tủy.
Chảy máu não
Khoảng một nửa số bệnh ở chảy máu não bán cầu ý thức bị mất hoặc bị rối loạn ngay từ đầu. Nôn rất hay gặp trong khởi phát của chảy máu não, đôi khi có đau đầu.
Chấn thương tủy
Điều trị chấn thương tủy bao gồm bất động và nếu có chèn ép tủy thì phẫu thuật cung đốt sống giải phóng chèn ép và sau đó kết hợp xương làm kín cung đốt sống.
Thoái hóa tủy bán cấp phối hợp
Thiếu máu hồng cầu lớn cũng có thể xảy ra nhưng không song song với các rối loạíi thần kinh, thiếu máu hồng cầu lớn sẽ mất đi nếu bổ xung acid folic. Bệnh được điều trị bằng vitamin B12.
Đau đầu
Khởi phát đau đầu dữ dội, ở bệnh nhận trước đó khỏe mạnh thì hầu như chắc chắn có liên quan đến tổn thương nội sọ, như chảy máu dưới nhện.
Loạn trương lực xoắn vặn khu trú
Cả co thắt mí mắt và loạn trương lực miệng xương hàm dưới có thể xảy ra như là một loạn trương lực khu trú riêng biệt. Co thắt mi mắt được đặc trưng bằng khó nhắm mí mắt.
Bệnh ngộ độc thịt
Khi nghi ngờ ngộ độc thịt cần phải báo cho cơ quan y tế địa phương và gửi một mẫu huyết thanh bệnh nhân cùng với thức ăn nghi nhiễm khuẩn (nếu có thể) tới một cơ sở xét nghiệm để xác định độc tố.
Các rối loạn liên quan đến sử dụng kháng sinh Aminoglycosid
Tuy nhiên các triệu chứng giảm đi nhanh khi thuốc được đào thải ra khỏi cơ thể. Các kháng sinh này đặc biệt có hại với những bệnh nhân có rối loạn dẫn truyền thần kinh cơ trước đó.
Rối loạn thần kinh do thiếu Vitamin E
Thiếu vitamin E có thể xảy ra như là hậu quả của kém hấp thu hoặc bệnh di truyền. Điều trị bằng alpha-tocopheryl acetat (như Aquasol E viên hoặc giọt).
Các vận động bất thường do thuốc
Tương tự, rối loạn trương lực có thể xuất hiện do dùng levodopa, bromocriptin, lithium, metoclopramid hoặc carbamazepin và hội chứng Parkinson có thể do reserpin, tetrabenazin, metoclopramid.
Các bệnh mạch máu tủy
Ở vùng tủy cổ, động mạch tủy trước có tương đối nhiều mạch nuôi, vì vậy nhồi máu tủy hầu hết xảy ra ở vùng đuôi ngựa. Biểu hiện lâm sàng là liệt hai chân đột ngột.
Rỗng tủy
Bệnh cảnh lâm sàng đặc trưng gồm teo cơ từng đoạn, mất phản xạ và mất cảm giác đau, nóng lạnh phân bố theo kiểu áo choàng do sự phá hủy các sợi bắt chéo phía trước kênh nội tủy.
