Bài giảng chửa trứng

2012-11-02 10:14 AM

Chửa trứng là do sự phát triển bất thường của các gai rau, nguyên bào nuôi phát triển quá nhanh nên tổ chức liên kết bên trong gai rau cùng với các mạch máu không phát triển theo kịp.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Định nghĩa

Chửa trứng là do sự phát triển bất thường của các gai rau, nguyên bào nuôi phát triển quá nhanh nên tổ chức liên kết bên trong gai rau cùng với các mạch máu không phát triển theo kịp, các gai rau không còn tổ chức liên kết và không còn các mạch máu, trở thành các bọc nước.

Nguyên nhân và các yếu tố thuận lợi

Nguyên nhân chửa trứng hiện nay vẫn chưa được biết rõ, nhưng theo thống kê thì ở các nước kém phát triển có tỉ lệ bệnh cao; ở châu Âu 1/1.000 - 2.000 trường hợp đẻ thường, trong khi đó ở Philipin 1/200; ở Đài Loan 1/82; ở Việt Nam khoảng 1/500.

Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi trong thời kỳ sinh đẻ. Theo Fox, Tow, Novak các yếu tố thuận lợi cho sự phát triển chửa trứng là thiếu dinh dưỡng chủ yếu là thiếu đạm; đẻ nhiều; tuổi cao. Park - Tominaga và Page - Carr đã tìm thấy có bất thường về thể nhiễm sắc ở các tế bào nuôi trong chửa trứng và ung thư nguyên bào nuôi. Đa số ý kiên cho thấy tế bào nuôi trong chửa trứng thường có 4n thể nhiễm sắc, còn ung thư nguyên bào nuôi thường có 2n thể nhiễm sắc kèm với một vài bất thường trong các đôi thể nhiễm sắc.

Người ta còn chú ý đến vấn đề miễn dịch trong chửa trứng. Ahwood-Park và Douglas đã tìm thấy trong 40% các trường hợp chửa trứng có tế bào nuôi xâm nhập vào mạch máu và hiện tượng này thường xảy ra ở thai trên 18 tuần. Nhờ sức đề kháng miễn dịch của cơ thể người mẹ mà các tế bào này không tồn tại và phát triển được. Trường hợp sản phụ không đủ sức đề kháng, không sinh được kháng thể để chống lại sự phát triển của các tế bào nuôi thì chửa trứng sẽ xuất hiện.

Robinson đã ghép da của người chồng cho một phụ nữ bị ung thư nguyên bào nuôi thì thấy không có hiện tượng loại bỏ mảnh da ghép. Như vậy, ở người bị ung thư nguyên bào nuôi bị suy giảm hệ thống miễn dịch hoặc suy giảm miễn dịch là yếu tố thuận lợi cho phát triển ung thư nguyên bào nuôi.

Giải phẫu bệnh

Đại thể

Các gai rau thoái hoá thành các túi trứng to bằng  hạt đậu hay bằng quả nho, mỗi túi có một cuống nhỏ dính với nhau thành chùm, trong túi có chứa nước màu trắng trong. Thường chỉ có 1/3 - 2/3 gai rau thoái hoá, bào thai thì chết sớm và tiêu đi. Về đại thể có ba loại chửa trứng:

Chửa trứng toàn phần: hầu hết các gai rau bị thoái hoá, biến thành các túi trứng.

Chửa trứng bán phần: Phần lớn các gai rau biến thành túi nước, còn một phần gai rau bình thường, do đó có các túi trứng và cả rau.

Chửa trứng kèm theo thai nhi: Một phần nhỏ gai rau bị thoái hoá, còn phần lớn gai rau không bị thoái hoá vẫn đủ để nuôi dưỡng thai. Do đó trong buồng tử cung có cả thai, bánh rau và một số túi trứng.

Vi thể

Các gai rau thoái hoá thành các túi trứng, ở ngoài là các nguyên bào nuôi chia làm hai lớp: ngoài là lớp hợp bào trong là lớp đơnn bào còn goi là lớp tế bào Langhans. Lớp hợp bào và lớp đơn bào có thể phát triển lành tính hoặc hỗn loạn. Vì vậy người ta chia làm hai loại:

Chửa trứng lành tính: lớp hợp bào không bị phá vỡ, lớp đơn bào không ăn vào lớp niêm mạc tử cung.

Chửa trứng ác tính: lớp hợp bào mỏng đi và có từng vùng bị phá vỡ, lớp đơn bào ở trong xâm lấn ra ngoài, tràn vào niêm mạc tử cung và ăn sâu vào lớp cơ tử cung, có khi ăan thủng lớp cơ tử cung gây chảy máu trong ổ bụng.

Nang hoàng tuyến

Khi chửa trứng hCG tăng cao, kích thích hoàng thể thai nghén ơ buồng trứng phát triển thành nang hoàng tuyến. Nang hoàng tuyến có thể có hoặc không có, nếu có thì thường có cả hai bên buồng trứng. Nang có thể to hoặc nhỏ, trong nang có chứa nước màu vàng chanh. Sau khi nạo hoặc sẩy, nang sẽ tự mất dần nếu không có biến chứng.

Triệu chứng cơ năng

Ra máu: Là triệu chứng quan trọng đầu tiên. Ra máu sớm vào tháng thứ hai đến tháng thứ tư, máu ra tự nhiên; màu đen họăc đỏ; ra ít một và kéo dài dai dẳng, bệnh nhân xanh xao, niêm mạc nhợt nhạt thiếu máu, mệt mỏi vẻ mặt hốc hác.

Ngén bất thường: Bệnh nhân nôn nhiều hơn các lần có thai bình thường trước.

Dấu hiệu nhiễm độc thai nghén: Phù, huyết áp cao, có protein niệu. Đôi khi có dấu hiệu vàng da, nước tiểu vàng ( Robert).

Trình trạng cường giáp với tuyến giáp to, nhịp tim nhanh, da bàn tay ấm, run tay... chiếm khoảng 10% trường hợp. Thường thấy ở thể nặng khi chiều cao tử cung trên 16 cm, nồng độ hCG trong nước tiểu trên 1.000.000 đơn vị qquốc tế/ 24 giờ.

Triệu chứng thực thể

Tử cung: Mật độ tử cung mềm, không sờ thấy các phần của thai nhi ( trừ loại có kèm thai nhi). Tử cung to hơn tuổi thai ( trừ loại chửa trứng thoái hoá thì tử cung không to hơn tuổi thai).

Nghe tim thai: Không nghe thấy tim thai.

Âm đạo mềm, có thể nhìn thấy nhân di căn âm đạo to bằng đầu ngón tay, màu tím dễ chảy máu. Nhân di căn thường xuất hiện ở thành trước âm đạo.

Phần phụ: Có thể sờ thấy nang hoàng tuyến hai bên, di động dễ.

Xét nghiệm

Phản ứng sing vật: Lượng hCG ( human chorionic gonadotropin) trong có thai thường cao nhất vào cuối tháng thứ hai đầu tháng thứ ba, nhưng dưới mức 20.000 đơn vị ếch. Trong chửa trứng lượng hCG sẽ tăng trên 20.000 đơn vị ếch.

ßhCG: Nồng độ ßhCG tăng rất cao trong chửa trứng, thường là trên 500.000 đơn vị quốc tế trong 24 giờ. Tuy nhiên chẩn đoán có thể nhầm lẫn nếu chỉ dựa vào một lần định lượng ßhCG duy nhất vì những lý do sau:

Trong một số trưòng hợp thai thường ở khoảng 10 tuần tuổi thai hay một số trường hợp đa thai, lượng ßhCG có thể trên 500.000 đơn vị quốc tế/24 giờ.

Ngược lại, đôi khi chửa trứng cũng có thể có nồng độ ßhCG trong máu không cao.

Estrogen: Trong nước tiểu estrogen dười dạng estron, estradiol hay estriol đều thấp hơn so với thai thường do sự rối loạn chế tiết của rau thai và do không có sự biến đổi estradiol thành estriol xảy ra ở tuyến thượng thận của thai nhi. Sự khác biệt về nồng độ estrogen này thấy rõ khi tuổi thai trên 14 tuần.

hPL ( human placental lactogen): hPL thường cao trong thai thường nhưng lại rất thấp trong chửa trứng, do nguyên bào nuôi trong chửa trứng không tổng hợp được hPL một cách bình thường. Nếu hPL thấp mà ßhCG cao thì có thể chẩn đoán chính xác chửa trứng. Trong thai thường từ  khoảng 25 tuần trở đi, nồng độ hPL trong huyết thanh vào khoảng > 10 mcg/ml.

Siêu âm

Doppler không nghe thấy tim thai.

Siêu âm không thấy hình ảnh phôi thai mà chỉ thấy lốm đốm được ví như hình ảnh tuyết rơi, hình ảnh chùm nho.

X quang

Chụp tử cung không chuẩn bị đối với những bệnh nhân có chiều cao tử cung trên 14 cm, nếu không thấy hình xương thai thì rất nghi ngờ chửa trứng.

Chụp buồng ối sau khi bơm chất cản quang vào buồng tử cung 5 phút (loại tan trong nước) sẽ thấy hình ảnh dạng tổ ong dấu hiệu tương đối chắc chắn của chửa trứng. Theo Kistener kết quả chẩn đoán đúng của phương pháp này là 100%. Hiện nay chụp buồng ối không còn được sử dụng nữa do tính hiệu quả cũng như sự vô hại của siêu âm chẩn đoán.

Chẩn đoán xác định

Thường dễ đối với những trường hợp điển hình:

Ra máu dai dẳng.

Tử cung to hơn tuổi thai.

Lượng hCG tăng cao.

Đôi khi khó chẩn đoán, cần phối hợp nhiều triệu chứng và nhiều xét nghiệm cận lâm sàng để chẩn đoán.

Chẩn đoán phân biệt

Chửa trứng có thể nhầm với:

Doạ sẩy thai thường: Tử cung không to hơn tuổi thai, lượng hCG dưới 20.000 đơn vị ếch.

Thai chết lưu: Dễ nhầm trong trường hợp chửa trứng bán phần. Thai chết lưu thường tử cung nhỏ hơn so với tuổi thai, vú căng có thể có tiết sữa, phản ứng sinh vật âm tính.

U xơ tử cung: Có thể có triệu chứng rong huyết, không có triệu chứng thai nghén, phản ứng sinh vật âm tính.

Nghén nặng trong thai thường: Tử cung không to hơn tuổi thai, lượng hCG dưới 20.000 đơn vị ếch, siêu âm thấy âm vang thai, hoạt động tim thai.

Chửa ngoài tử cung: Có tiền sử thai nghén, lượng hCG thấp, tử cung nhỏ hơnn nhiều so với tuổi  thai. Cần kết hợp với siêu âm để chẩn đoán, ở những cơ sở có điều kiện có thể áp dụng soi ổ bụng để chẩn đoán sớm chửa ngoài tử cung đối với những trường hợp khó.

Tiến triển và biến chứng

chửa trứng nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, thường sẩy tự nhiên gây chảy máu rất nhiều.

Tiến triển tốt

Sau nạo thai trứng, khoảng 80 - 90% các trường hợp:

Hết ra máu âm đạo.

Tử cung co hồi nhanh trong vòng 5 - 6 ngày.

Nang hoàng tuyến nếu có sẽ thu nhỏ dần rồi biến mất.

Nồng độ hCG giảm nhanh trong tuần đầu sau nạo. Theo Kistner, 80% bệnh nhân có lượng hCG trong nước tiểu trở về mức bình thường trong vòng 30 - 60 ngày sau khi được nạo hút trứng.

Tiến triển xấu

Băng huyết: nếu không được điều trị, trứng sẽ sẩy tự nhiên; khi sẩy gây băng huyết nặng và dễ sót trứng, sót rau.

Thủng tử cung: Nếu là chửa trứng ác tính ăn sâu vào lớp cơ tử cung, có thể làm thủng tử cung gây chảy máu tràn ngập ổ bụng rất nguy hiểm.

Nhiễm khuẩn: Viêm niêm mạc tử cung gây rong huyết.

Ung thư nguyên bào nuôi: Chửa trứng rất dễ biến chứng thành ung thư nguyên bào nuôi, tỷ lệ biến chứng 15 -17%. Vì vậy chửa trứng phải được chẩn đoán sớm, theo dõi sát để phát hiện và xử trí kịp thời biến chứng ung thư nguyên bào nuôi.

Xử trí

Trong lúc chửa trứng

Khi đã chẩn đoán xác định là chửa trứng thì phải xử trí sớm để tránh biến chứng.

Nếu có máy hút thì nên hút trứng cho mọi trường hợp. Trong khi nạo, tiêm truyền nhỏ giọt tĩnh mạch 500ml huyết thanh ngọt đẳng trương cùng với 5 đơn vị oxytocin. Nong cổ tử cung đến số 12, thường nong dễ vì cổ tử cung mềm. Dùng máy hút để hút trứng ra cho tới khi tử cung co nhỏ lại hợc dùng kìm hình tim hướng theo chiều tử cung gắp dần các túi trứng ra. Dùng thìa to và cùn nạo lạ buồng tử cung. Sau 2-3 ngày nạo lại buồng tử cung. Sau nạo phải cho bệnh nhân dùng kháng sinh để đề phòng nhiễm khuẩn.

Cắt tử cung dự phòng cả khối: Do tỉ lệ biến chứng thành ung thư nguyên bào nuôi cao nên với những nngười trên 35 tuổi và đẻ nhiều lần thì xử trí có thể nạo trứng rồi cắt tử cung dự phòng hoặc cắt tử cung cả khối mà không nạo.

Trong lần nạo đầu tiên phải rất cẩn thận vì dễ bị thủng tử cung. Bệnh phẩm hút nạo phải được gửi xét nghiệm giải phẫu bệnh lý. Tất cả túi trứng, rau thai, thai ( nếu có), mô nạo sát niêm mạc tử cung đều phải xét nghiệm giải phẫu bệnh lý; mỗi loại nên để riêng trong một lọ bệnh phẩm.

Chửa trứng ác tính có nhân di căn: Nguyên tắc xử trí là cắt tử cung hoàn toàn, lấy nhân di căn ( nếu vị trí di căan có thể phẫu thuật được), đông thời điều trị bằng hoá chất chống ung thư. Chỉ tron trường hợp bệnh nhân ít tuổi, có thai lần đầu, tha thiết muốn có con, di căn âm đạo ít chúng ta mới đặt vấn đề nạo trứng lấy nhân di căn và điều trị hoá chất giữ lại tử cung; nhưng phải theo dõi sát, nếu điều trị bảo tồn không kết quả thì phải mổ cắt tử cung đồng thời điều trị hoá chất phối hợp.

Theo dõi sau nạo

Ngay sau khi naọ trứng đã phải thứ xét nghiệm giải phẫu bệnh lý để xem chửa trứng lành tính hay chửa trứng xâm nhập (ác tính).

Đè phòng nhiễm khuẫn sau nạo bằng cách cho kháng sinh dự phòng 5 ngày và thuốc co tử cung.

Theo dõi lâm sàng: Sau nạo trứng từ 3 đến 4 tuần, những đặc điểm về giải phẫu, sinh lý của bộ phận sinh dục trở lại bình thường. Sau thời gian đó nếu tử cung còn to, còn ra máu, nang hoàng tuiyến không mất đi, thì phải nghĩ đến biến chứng thành ung thư nguyên bào nuôi. Nếu thấy xuất hiện nhân di căn thì càng chắc chắn hơn.

Theo dõi bằng phản ứng sinh vật: Sau nạo trứng phải định lượng hCG mỗi tuần một lần cho đến khi hCG xuống âm tính. Sau khi đã xuống âm tính thì trong ba tháng đầu cứ hai tuần định lượng hCG một lần. 6 tháng tiếp theo cứ mỗi tháng định lượng hCG một lần, nếu các kết quả trước đó đều âm tính. Trong năm tiếp theo, hai tháng định lượng hCG một lần.

Nếu nồng độ hCG còn cao bất thường phải chụp X quang phổi để tìm di căn của ung thư nguyên bào nuôi.

Khuyên bệnh nhân phải sau hai năm mới có thai lại, vì nếu bệnh nhân có thai lại sớm thì nguy cơ bị chửa trứng cũng như ung thư nguyên bào nuôi rất cao, nặt khác làm khó khăn cho việc theo dõi bệnh. Phương pháp tránh thai nên dùng là túi cao su hay xuất tinh ngoài âm đạo. Không dùng thuốc uống  tránh thai hay dụng cụ tử cung trong thời gian theo dõi sau nạo thai trứng.

Phòng bệnh

Vì nguyên nhân của chửa trứng còn chưa được biết rõ nên phòng bệnh tốt nhất là nâng cao mức sống, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, chẩn đoán bệnh sớm để xử trí kịp thời, theo dõi sót rau, sót trứng. Sau nạo phải theo dõi chặt chẽ đè phòng và phát hiện sớm biến chứng thành ung thư nguyên bào nuôi.

Bài viết cùng chuyên mục

Bài giảng bệnh lành tính của vú

Các bệnh về vú thường gặp trong phụ khoa phát hiện và khám chữa bệnh thường muộn. Nêu người phụ nữ tự phát hiện được và điều trị sớm thì kết quả tốt.

Những thay đổi giải phẫu sinh lý của phụ nữ khi có thai

Sự tồn tại của thai nhi với những tuyến nội tiết hoạt động từ rất sớm bắt đầu từ tuần thứ 11; những tuyến này bao gồm tuyến yên, tuyến giáp trạng, thượng thận, tuỵ, và sinh dục.

Bài giảng u nguyên bào nuôi

Ung thư nguyên bào nuôi tần suất 1/40.000 phụ nữ có thai, gần 50% sau chửa trứng, 25% sau sẩy thai, 22% sau đẻ thường và sau đẻ thường 2-3%. Bệnh nguyên bào nuôi có tỉ lệ 1/1.200 thai nghén ở Mỹ và 1/120 thai nghén ở vùng Đông Nam Á.

Bài giảng sử dụng thuốc trong thời kỳ có thai

Nguy cơ của thuốc là khác nhau, tuỳ theo giai đoạn thai nghén. Nguy cơ gây dị dạng, gây độc cho thai và gây ung thư là những nguy cơ chủ yếu trong 3 tháng đầu.

Bài giảng sự chuyển dạ

Cho tới nay người ta chưa biết rõ ràng và đầy đủ những nguyên nhân phát sinh những cơn co chuyển dạ. Người ta đã đưa ra nhiều giả thuyết để giải trình, có một số giả thuyết được chấp nhận.

Bài giảng đẻ khó do cơn co tử cung

Áp lực cơn co tử cung tính bằng mmHg hoặc bằng Kilo Pascal(KPa) (1mmHg = 0,133 KPa). Đơn vị Montevideo (UM) bằng tính của biên độ cơn co trung bình nhân với tần số cơn co (số cơn co trong 10 phút).

Bài giảng giác hút sản khoa

Trên thế giới việc đánh giá lợi ích và tác dụng của giác hút có nhiều điểm khác nhau, nên tình hình sử dụng cũng khác nhau. Ớ Bắc Mỹ giác hút ít được sử dụng.

Bài giảng viêm sinh dục

Viêm sinh dục có lầm quan trong trong bệnh lý phụ khoa vì nó là nguyên nhân gây nhiều rối loạn trong đời sống và hoạt động sinh dục của người phụ nữ.

Bài giảng biện pháp kế hoạch hóa gia đình

Không giao hợp khi người phụ nữ có chất nhầy trong âm đạo, đưa hai ngón tay vào âm đạo thấy có chất nhầy ở giữa hai ngón tay cho đến 4 ngày sau khi hết chất nhầy ẩm ướt.

Bài giảng chẩn đoán thai nghén

Nghén: Là sự thay đổi của người phụ nữ do tình trạng có thai gây nên. Nghén được biểu hiện: buồn nôn, nôn, tiết nước bọt, thay đổi về khứu giác, vị giác, tiết niệu, thần kinh và tâm lý.

Bài giảng ối vỡ sớm, ối vỡ non

Quan điểm về ối vỡ sớm trước tuần 37 vẫn đang còn tranh cãi. Ở nhiều nước trên thế giói quan niệm ối vỡ non hay ối vỡ sớm chỉ là một và được định nghĩa ối vỡ là rách màng ối.

Chăm sóc trẻ nhẹ cân non tháng

Một thế kỷ trước đây, ngay cả ở châu Âu, trẻ nhẹ cân và thiếu tháng cũng không có cơ hội để sống, cái chết của trẻ thấp cân và đẻ non luôn là nỗi đau vô hạn đối với người mẹ và gia đình.

Bài giảng rau tiền đạo

Phần lớn bánh rau bám vào thân tử cung, chỉ một phần nhỏ bám vào đoạn dưới, không gây chảy máu, thường hay gây vỡ ối sớm. Đa số được chẩn đoán hồi cứu sau khi sổ rau.

Bài giảng bệnh tim và thai nghén

Sau đẻ lưu lượng tim trở lại bình thường trong thời kỳ hậu sản. Lưu lượng tim tăng do nhu cầu tiêu thụ oxy cho mẹ (vú, tử cung), cho thai và phần phụ của thai. Khối lượng máu tăng, nên lưu lượng máu phải tăng theo.

Bài giảng sốt rét và thai nghén

Sốt rét là một bệnh nguy hiểm đặc biệt là sốt rét ác tính, vì nó đe dọa tính mạng của sản phụ và thai nhi. Người ta nhận thấy tiên lượng thường xấu đối với người có thai con so bị bệnh sốt rét ác tính.

Bài giảng đẻ khó cơ giới

Phi lâm sàng phát hiện khung chậu không bình thường có thể làm siêu âm, nhưng đặc biệt là chụp Télé khung chậu, đặc biệt là chụp eo trên với một mặt phẳng có chia ô từng cm2 một.

Bài giảng ngôi mông sản khoa

Ngôi mông là một ngôi bất thường. Là một ngôi có khả năng đẻ đường dưới nhưng dễ mắc đầu hậu vì vậy nếu không được chẩn đoán sớm, tiên lượng tốt và xử lý thích hợp thì nguy cơ cho mẹ và thai sẽ rất cao.

Bài giảng cơ chế đẻ ngôi chỏm kiểu thế chẩm chậu trái trước

Ngôi chỏm, kiểu thế chẩm chậu trái trước gặp ở các bà mẹ có khung chậu bình thường, thành bụng còn chắc (đẻ ít), bộ phận sinh dục không có dị dạng, còn thai nhi, ối, rau cũng bình thường.

Bài giảng nhiễm trùng tiết niệu và thai nghén

Nhiễm trùng đường tiết niệu là bệnh lý hay gặp ở người phụ nữ, đặc biệt xảy ra tần suất cao đối với các trường hợp mang thai. Đôi lúc nhiễm trùng đường tiết niệu xảy ra âm thầm, lặng lẽ không có triệu chứng rõ ràng.

Bài giảng loạn dưỡng âm hộ và ung thư trong biểu mô

Tỉ lệ carcinoma tại chỗ của âm hộ ngày một tăng lên và dần có khuynh hướng phát hiện trên những phụ nữ trẻ đặc biệt trong lứa tuôi sinh đẻ

Bài giảng rong kinh rong huyết tiền mãn kinh

Nhiều khi gọi tắt là rong kinh tiền mãn kinh. Thực ra, có thể ban đầu là rong kinh, về sau huyết ra kéo dài, chảy máu không còn theo cơ chế kinh nguyệt nữa mà do thương tổn (viêm) ở niêm mạc tử cung và là rong huyết.

Bài giảng ngôi vai trong sản khoa

Ngôi vai không có cơ chế đẻ nếu thai đủ tháng. Nhưng nếu thai quá nhỏ hoặc thai chết khi còn non tháng, khung chậu rộng, thai nhi có thể đẩy ra ngoài.

Bài giảng ngôi mặt trong sản khoa

Ngôi mặt là ngôi đầu ngửa hẳn, mặt trình diện trước eo trên. Mốc của ngôi là cằm. Ngôi mặt là ngôi đẻ khó hơn ngôi chỏm. Ngôi mặt kiểu thế trước dễ đẻ hơn ngôi mặt kiểu thế sau, nhưng chỉ có một kiểu sổ là cằm vệ, cằm cùng không sổ được.

Bài giảng tiền sản giật

Tiền sản giật là giai đoạn quá độ từ nhiễm độc thai nghén biến chứng thành sản giật. Giai đoạn tiền sản giật có thể diễn biến khoảng vài giờ, vài ngày, vài tuần, tuỳ mức độ nặng nhẹ của bệnh; cũng có thể thoáng qua gần như bỏ qua giai đoạn này.

Bài giảng vô sinh

Bình thường sau một năm chung sống khoảng 80 – 85% các cặp vợ chồng có thể có thai tự nhiên. Theo thống kê trên thế giới, tỷ lệ vô sinh chiếm khoảng 8 – 15 % các cặp vợ chồng.