Vận chuyển và lưu trữ Amino Acids trong cơ thể

2022-08-16 09:52 AM

Sản phẩm của quá trình tiêu hóa protein và hấp thụ trong đường tiêu hóa gần như hoàn toàn là các amino acid; hiếm khi là các polypeptid hoặc toàn bộ phân tử protein được hấp thu quá hệ tiêu hóa vào máu.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Amino Acids máu

Nồng độ bình thường của các amino acid trong máu là từ 35-65 mg/dl, tương đương trung bình khoảng 2 fomrgea/dchl của 20 amino acid, mặc dù một số có số lượng nhiều hơn so với các amino acid khác.. Bởi vì các amino acid là acid tương đối mạnh, chúng tồn tại trong máu chủ yếu ở dạng ion hóa, là kết quả của việc chúng tách một nguyên tử hydro từ gốc NH2. Chúng chiếm 2-3 miliequivalents các ion âm trong máu. Sự phân bố chính xác các amino acid khác nhau trong máu phụ thược vào một mức độ nào đó về các loại protein ăn vào, nhưng nồng độ một số amino acid lại được quy định bởi sự tổng hợp ở các loại tế bào khác nhau.

Các axit amin

Hình. Các axit amin. 10 axit amin thiết yếu không thể được tổng hợp với số lượng đủ trong cơ thể; các axit amin này phải được thu nhận, đã được hình thành, từ thực phẩm.

Số phận của các amino acid được hấp thụ từ hệ tiêu hóa. Các sản phẩm của quá trình tiêu hóa protein và hấp thụ trong đường tiêu hóa gần như hoàn toàn là các amino acid; hiếm khi là các polypeptid hoặc toàn bộ phân tử protein được hấp thu quá hệ tiêu hóa vào máu. Ngay sau khi ăn, nồng độ amino acid trong máu một người tăng, nhưng nó chỉ tăng khoảng một vài mg/dl, vì hai lý do: thứ nhất: sự tiêu hóa và hấp thụ protein thường kéo dài hơn 2-3 giờ, nó chỉ cho phép một lượng nhỏ amino acid được hấp thu tại một thời điểm. Thứ hai, sau khi vào máu, các amino acid được hấp thu trong vòng 5-10 phút bởi các tế bào khắp cơ thể, đặc biệt là gan. Do đó, nồng độ lớn các amino acid gần như không bao giờ tích tụ trong máu và các mô chất lỏng. Tuy nhiên, nếu tốc độ phân hủy amino acid quá nhanh đó là khi nhiều gram protein có thể được mang từ một phần của cơ thể tới một nơi khác để hình thành amino acid mỗi giờ.

Hoạt động vận chuyển các amino acid vào trong các tế bào. Các phân tử amino acid thì quá lớn để có thể khuếch tán dễ dàng qua các lỗ màng tế bào. Do đó, số lượng lớn các amino acid có thể di chuyển vào bên trong hoặc ra bên ngoài thông qua màng bằng các cổng thông tin hoặc vận chuyển tích cực.

Tái hấp thu Amino Acids ở thận. Trong thận, các amino acid khác nhau có thể được tái hấp thu qua ống thận bằng cách vận chuyển tích cực thứ phát, chúng được lọc khỏi dịch lọc cầu thận và được tái hấp thu về máu khi chúng vào bên trong ống thận qua màng cầu thận. Tuy nhiên, như có một cơ chế vận chuyển tích cực khác trong ống thận, giới hạn tốc độ mỗi loại amino acid có thể được vận chuyển. Vì lý do này, khi nồng độ của một loại amino acid trở nên quá cao trong huyết tương và dịch lọc cầu thận, lượng dư sẽ không được vận chuyển tích cực tái hấp thu qua nước tiểu.

Dự trữ Amino Acids như Proteins trong các tế bào

Sau khi đi vào bên trong các tế bào mô, các amino acid liên kết với nhau bằng liên kết peptid, dưới sự điều khiển của hệ thống mRNA và ribosome của tế bào, hình thành các protein tế bào. Do đó, nồng độ của các amino acid tự do bên trong hầu hết các tế bào thường ở mức thấp và các tế bào không dự trữ một lượng lớn amino acid tự do; thay vào đó, chúng được dự trữ chủ yếu ở dạng protein. Tuy nhiên, rất nhiều các protein trong tế bào có thể được nhanh chóng phân cắt một lần nữa thành các amino acid dưới xúc tác của các enzyme tiêu hóa lysosome trong tế bào. Những amino acid sau đó có thể được vận chuyển trở lại ra khỏi tế bào vào máu. Trường hợp ngoại lệ của quá trình này là các protein trong các nhiễm sắc thể của hạt nhân và các protein cấu trúc như collagen và protein cơ. Những protein này không tha gia quá trình phân cắt và vận chuyển ngược lại ra ngoài tế bào.

Một số mô của cơ thể tham gia vào việc dự trữ các amino acid ở mức độ lớn hơn các mô khác. Ví dụ: gan là một cơ quan lớn và có hệ thống đặc biệt để xử lý các amino acid, chúng có thể dự trữ một lượng lớn protein và chuyển hóa ngược lại nhanh chóng. Ngoài ra còn có thận và niêm mạc ruột nhưng dự trữ ở mức độ thấp hơn.

Giải phóng các amino acid từ tế bào để điều tiết nồng độ amino acid huyết tương. Bất cứ khi nào nồng độ acid amino huyết tương giảm xuống dưới mức bình thường, các amino acid cần thiết được vận chuyển ra khỏi tế bào để bổ sung nguồn cung cấp của chúng trong huyết tương. Bằng cách này, nồng độ trong huyết tương của từng loại amino acid được duy trù ở một giá trị không đổi thích hợp. Song một số các hormone được tiết ra bởi các tuyến nội tiết có thể làm thay đổi sự cân bằng giữa protein mô và amino acid huyết tương. Ví dụ, hormone tăng trưởng và insulin làm tăng sự hình thành protein mô, trong khi hormone glucocorticoid vỏ não làm tăng nồng độ amino acid huyết tương.

Trạng thái cân bằng có hồi phục giữa các protein trong các phần khác nhau của cơ thể. Vì các protein trong gan (và với mức độ ít hơn trong các mô khác) có thể được tổng hợp nhanh từ các amino acid huyết tương, và bởi vì nhiều protein có thể bị giáng cấp để trở lại huyết tương gần như một cách nhanh chóng, sự thay đổi xảy ra liên tục và cân bằng giữa amino acid huyết tương và protein xảy ra trong tất cả tế bào trong cơ thể. Ví dụ, nếu một mô cụ thể cần protein, nó có thể tổng hợp protein mới từ các axit amin của máu; đến lượt nó, các axit amin trong máu được bổ sung bằng cách thoái hóa protein từ các tế bào khác của cơ thể, đặc biệt là từ các tế bào gan. Những tác động này đặc biệt đáng chú ý liên quan đến sự tổng hợp protein trong tế bào ung thư. Tế bào ung thư thường là những người sử dụng nhiều axit amin; do đó, các protein của các tế bào khác có thể trở nên cạn kiệt rõ rệt.

Giới hạn trên đối với dự trữ lượng Proteins. Mỗi loại tế bào cụ thể có một giới hạn trên đối với lượng protein chúng có thể dự trữ. Sau khi tất cả các tế bào đã đạt tới giới hạn của nó, các amino acid thường còn lưu thông trong cơ thể sẽ bị phân hủy thành các sản phẩm khác và sử dụng năng lượng, sẽ được giải thích sau, hoặc chúng được chuyển đổi thành chất béo hoặc glycogen và dự trữ dưới các hình thức.

Bài viết cùng chuyên mục

Hấp thu và bài tiết của canxi và phosphate

Thông thường ống thận hấp thu khoảng 99% lượng canxi, và khoảng 100mg/ngày tiết ra trong nước tiểu. khoảng 90 % canxi trong nước tiểu đầu được tái hấp thu ở ống lượn gần,quai henle, một phần đầu của ống lượn xa.

Dẫn truyền xung động từ tận cùng thần kinh tới sợi cơ vân: Khớp thần kinh cơ

Điện thế hoạt động bắt đầu lan truyền trong các sợi cơ vân bởi các xung thần kinh đi theo cả hai hướng về phía tận cùng sợi cơ.

Đường cong hoạt động của tâm thất

Khi tâm thất được làm đầy đáp ứng với sự tăng cao áp suất tâm nhĩ, mỗi thể tích tâm thất và sức co cơ tim tăng lên, làm cho tim tăng bơm máu vào động mạch.

Đái tháo đường type 2: kháng insulin

Bệnh tiểu đường type 2 là phổ biến hơn so với type 1, chiếm khoảng 90% đến 95% của tất cả các bệnh nhân đái tháo đường. Trong hầu hết các trường hợp, sự khởi đầu của bệnh tiểu đường type 2 xảy ra sau tuổi 30, thường ở độ tuổi từ 50 đến 60.

Tiêu cự của thấu kính: nguyên lý quang học nhãn khoa

Các tia sáng đi đến thấu kính hội tụ không phải là một chùm tia song song mà là phân kì bởi vì nguồn phát các tia sáng không đặt xa thấu kính đó.

Vai trò của các nhân não và tiền đình: nâng đỡ cơ thể chống lại trọng lực

Các nhân lưới được chia làm 2 nhóm chính: các nhân lưới ở cầu não, nằm ở phía sau bên của cầu não và kéo dài tới hành não, các nhân lưới ở hành não, kéo dài suốt toàn bộ hành não, nằm ở cạnh đường giữa.

Thay đổi tuần hoàn của trẻ khi sinh

Những thay đổi cơ bản ở tuần hoàn thai nhi lúc sinh được mô tả trong mối liên quan với những bất thường bẩm sinh của ống động mạch và lỗ bầu dục mà tồn tại trong suốt cuộc sống của một ít người.

Cấu trúc tế bào cơ thể người

Hầu hết bào quan của tế bào được che phủ bởi màng bao gồm lipid và protein. Những màng này gồm màng tế bào, màng nhân, màng lưới nội sinh chất, màng ti thể, lysosome,và bộ máy golgi.

Hormone tăng trưởng (GH) gây các ảnh hưởng lên chuyển hóa

Hormone tăng trưởng GH tác động trên sự phát triển cơ thể, tác dụng trên phức hợp chuyển hóa, gồm tăng tạo protein, tăng huy động các acid béo từ mô mỡ, làm giảm sử dụng glucose toàn cơ thể.

Aldosterol kích tích vận chuyển Natri và Kali vào trong các tế bào tuyến

Aldosterol kích tích vận chuyển Natri và Kali vào trong các tế bào tuyến mồ hôi, tuyến nước bọt và tế bào biểu mô ruột.

Tổng hợp và bài tiết hormon vỏ thượng thận

Bài tiết aldosterone và cortisol được điều hòa bởi cơ chế riêng. Angiotensin II làm tăng số lượng aldosterone và gây ra sự nở to của lớp cầu, không ảnh hưởng 2 vùng khác.

Ảnh hưởng của ion kali và canxi trong hoạt động của tim

Khi có nồng độ cao kali trong dịch ngoại bào sẽ một phần khử cực màng tế bào, làm điện thế màng bớt âm. Khi điện thế màng giảm, cường độ điện thế hoạt đọng cũng giảm, làm cho sự co bóp cơ tim yếu dần.

Tiêu hóa Protein khi ăn

Đặc tính của mỗi protein được xác định bởi các loại amino acid trong phân tử protein và bởi trình tự của những amino acid.

Đại cương sinh lý học về máu

Máu được tim bơm vào hệ thống mạch máu và đi khắp cơ thể. Trong công tác chăm sóc sức khoẻ, máu đặc biệt được quan tâm vì có nhiều xét nghiệm chẩn đoán được thực hiện trên máu.

Vùng vỏ não vận động sơ cấp và nhân đỏ: sự hoạt hóa những vùng chi phối vận động ở tủy sống

Những neuron của nhân đỏ có cùng các đặc tính động và tĩnh, ngoại trừ việc ở nhân đỏ tỉ lệ các neuron động nhiều hơn các neuron tĩnh, trong khi ở vùng vận động sơ cấp thì ngược lại.

Bài tiết acetylcholine hoặc noradrenalin của các sợi thần kinh giao cảm và phó giao cảm

Toàn bộ hoặc gần như toàn bộ các tận cùng thần kinh của hệ phó giao cảm đều tiết acetylcholin. Gần như tất cả các tận cùng thần kinh của hệ giao cảm đều tiết noradrenalin, tuy nhiên một vài sợi tiết ra acetylcholine.

Các hệ thống điều hòa huyết áp

Hệ thống đàu tiên đáp ứng lại những thay đổi cấp tính ở huyết áp động mạch là hệ thống thần kinh. Cơ chế thận để kiểm soát lâu dài của huyết áp. Tuy nhiên, có những mảnh khác nhau của vấn để.

Sự kích thích bài tiết acid dạ dày

Khi thức ăn có chứa protein tới vùng tận cùng hang vị, một vài protein từ thức ăn tác động kích thích tế bào tiết gastrin của tuyến môn vị gây nên sự giải phóng Gastrin vào máu để sau đó được vận chuyển đến các tế bào ECL ở dạ dày.

Block nhĩ thất không hoàn toàn: chặn đường truyền tín hiệu điện tim

Một điện tâm đồ có P-R kéo dài khoảng 0.3s thay vì bình thường khoảng 0,2s hoặc ít hơn. Do đó, block độ 1 được định nghĩa là sự chậm dẫn truyền từ nhĩ đến thất chứ không phải mất hẳn dẫn truyền.

Lưu lượng máu mạch vành bình thường

Lưu lượng mạch vành trái giảm trong thời kì tâm thu, khác với lại các mạch khác trong cơ thể. Bởi vì trong thời kì tâm thu, mạch vành bị nén lại mạnh mẽ tho co cơ tim của thất trái.

Điều hòa sự bài tiết hormone tăng trưởng (GH)

Cơ chế chính xác điều khiển sự bài tiết GH vẫn chưa được hiểu một cách hoàn toàn, nhưng có vài yếu tố liên quan tới mức độ dinh dưỡng của cơ thể hoặc căng thẳng đã được biết là các yếu tố gây kích thích bài tiết GH.

Phức bộ QRS: hình dạng giãn rộng bất thường

Phức bộ QRS được xem là không bình thường khi kéo dài ít hơn 0,09s; khi nó giãn rộng trên 0,12s- tình trạng này chắc chắn gây ra bởi bệnh lý block ở 1 phần nào đó trong hệ thống dẫn truyền của tim.

Thành phần các khí phế nang: sự khác nhau giữa phế nang và khí quyển

Ngay sau như không khí trong khí quyển đi vào đường hô hấp, nó được tiếp xúc với các dịch bao phủ bề mặt hô hấp. Ngay cả trước khi không khí đi vào các phế nang, nó trở nên gần hoàn toàn ẩm.

Chức năng sinh lý của oxytocin

Oxytocin làm co tử cung khi mang thai, khiến vú bài xuất sữa, Hormone oxytocin, kích thích mạnh mẽ co tử cung khi mang thai, nhất là trong giai đoạn cuối của thai kì.

Cơ chế phân tử của sự co cơ

Ở trạng thái co, các sợi actin này đã được kéo vào bên trong các sợi myosin, do đó hai đầu của chúng chồng lên nhau đến mức độ tối đa.