Sự phát triển của hệ cơ quan thai nhi

2020-05-30 10:30 AM

Sự phát triển các tế bào trên mỗi cơ quan thường chưa được hoàn thiện và cần 5 tháng mang thai còn lại để phát triển hoàn toàn. Ngay cả lúc sinh, những cấu trúc nhất định, đặc biệt là hệ thần kinh, thận và gan, thiếu sự phát triển hoàn toàn, như được mô tả sau.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Chỉ trong một tháng sau khi trứng thụ tinh, những đặc tính đại thể của tất cả các cơ quan khác nhau của bào thai đã bắt đầu được phát triển, và trong suốt 2-3 tháng tiếp theo hầu hết đặc điểm của các cơ quan khác nhau đã được thiết lập. Sau tháng thứ tư, những cơ quan của bào thai về mặt đại thể giống với bào thai. Tuy nhiên, sự phát triển các tế bào trên mỗi cơ quan thường chưa được hoàn thiện và cần 5 tháng mang thai còn lại để phát triển hoàn toàn. Ngay cả lúc sinh, những cấu trúc nhất định, đặc biệt là hệ thần kinh, thận và gan, thiếu sự phát triển hoàn toàn, như được mô tả sau.

Hệ tuần hoàn

Tim bắt đầu đập từ tuần thứ tư sau khi thụ tinh, co bóp với tỉ lệ khoảng 65 nhịp/phút. Tỉ lệ này tăng đều đến khoảng 140 nhịp/phút ngay sau khi sinh.

Hình thành các tế bào máu

Các tế bào hồng cầu có nhân bắt đầu được hình thành ở túi noãn hoàng và lớp trung biểu mô của nhau thai khoảng tuần thứ ba của sự phát triển thai. Sau đó một tuần (tuần thứ tư đến tuần thứ năm) hình thành các tế bào hồng cầu không có nhân bởi trung biểu mô thai và cũng bởi trung biểu mô của các mạch máu. Vào tuần thứ 6, gan bắt đầu hình thành các tế bào máu, và vào tháng thứ ba, lách và các mô lympho của cơ thể bắt đầu hình thành các tế bào máu. Cuối cùng, từ tháng thứ ba, tủy xương dần trở thành nguồn chính của các tế bào hồng cầu, cũng như hầu hết các bạch cầu, ngoại trừ các sản xuất các tế bào lympho và tương bào ở mô lympho.

Hệ thống hô hấp

Hô hấp không thể xảy ra trong cuộc sống bào thai bởi vì khoongc ó khí để thở trong khoang ối. Tuy nhiên, vận động hô hấp được cố gắng thực hiện diễn ra bắt đầu vào cuối quý thứ nhất của kỳ thai nghén. Kích thích xúc giác và đặc biệt thai ngạt gây cố gắng vận động hô hấp.

Trong suốt 3-4 tháng cuối của kỳ thai nghén, vận động hô hấp của thai chủ yếu là bị ức chế, lý do vẫn chưa được biết, và phổi hầu như vẫn hoàn toàn bị xẹp. Sự ức chế hô hấp trong những tháng cuối của bào thai ngăn cản phổi được ngập tràn dịch và mảnh vụn từ phân được bài tiết bởi ống tiêu hóa của thai vào dịch ối. Cũng vì thế, lượng nhỏ dịch được bài tiết vào phổi bởi biểu mô phế nang tăng lên cho đến thời điểm lúc sinh, do đó chỉ giữ dịch sạch trong phổi.

Hệ thần kinh

Phần lớn những phản xạ của thai, bao gồm tủy sống và kể cả thân não xuất hiện kể từ tháng thứ ba đến tháng thứ tư của kỳ thai nghén. Tuy nhiên, chức năng hệ thần kinh bao gồm vỏ não vẫn chỉ phát triển ở giai đoạn sớm kể cả lúc sinh. Thực tế, sự myeline hóa một số vùng thần kinh não quan trọng của não hoàn thành chỉ sau khoảng 1 năm sau sinh.

Ống tiêu hóa

Giữa kỳ thai nghén bào thai bắt đầu tiêu hóa và hấp thu lượng lớn dịch ối, và trong 2-3 tháng cuối, chức năng tiêu hóa giống với của đứa trẻ sơ sinh bình thường. Ở thời điểm này, lượng nhỏ phân liên tục được hình thành trong ống tiêu hóa và được đào thải từ hậu môn vào dịch ối. Phân bao gồm một phần từ phần còn lại dịch ối đã nuốt vào và một phần dịch nhầy, các tế bào biểu mô, và các sản phẩm bài tiết còn lại từ biểu mô đường tiêu hóa và các tuyến.

Thận

Thận bào thai bắt đầu bài tiết nước tiểu trong suốt quý thứ 2, và nước tiểu thai tạo ra chiếm khoảng 70-80% của dịch ối. Thận phát triển bất thường hoặc suy chức năng thận nghiêm trọng làm giảm đáng kể sự hình thành dịch ối của thai (oligohydramnios) và có thể dẫn đến chết thai.

Mặc dù thận thai hình thành nước tiểu,hệ thống điều khiển của thận điều hòa thể tích dịch ngoại bào và cân bằng điện giải, và đặc biệt cân bằng acidbase hầu như không tồn tại cho đến giai đoạn cuối của thai và chưa phát triển hoàn thiện cho đến một ít tháng sau khi sinh.

Bài viết cùng chuyên mục

Điện thế hoạt động trong cơ tim

Trong cơ tim, điện thế hoạt động được tạo ra do mở kênh natri nhanh kích hoạt điện thế và một tập hợp hoàn toàn khác các kênh canxi typ L, chúng được gọi là kênh canxi - natri.

Tính chất hóa học của các hormone sinh dục

Cả estrogen và progesterone đều được vận chuyển trong máu nhờ albumin huyết tương và với các globulin gắn đặc hiệu. Sự liên kết giữa hai hormone này với protein huyết tương đủ lỏng lẻo để chúng nhanh chóng được hấp thu.

Đại cương sinh lý học về máu

Máu được tim bơm vào hệ thống mạch máu và đi khắp cơ thể. Trong công tác chăm sóc sức khoẻ, máu đặc biệt được quan tâm vì có nhiều xét nghiệm chẩn đoán được thực hiện trên máu.

Vùng dưới đồi: cơ quan đầu não của hệ limbic

Vùng dưới đồi, mặc dù kích thước nhỏ, chỉ vài cm (nặng khoảng 4 gram),  nhưng có 2 đường truyền tới tất cả cấu trúc của hệ limbic. Vùng dưới đồi và cấu trúc phụ liên quan gửi xung động đi ra theo 3 đường.

Kiểm soát chức năng tình dục nam giới bằng các hormone vùng dưới đồi và thùy trước tuyến yên

LH và FSH là các glycoprotein. Chúng phát huy tác dụng của mình tại tuyến đích ở tinh hoàn bằng cách kích hoạt chất dẫn truyền tin thứ hai là cAMP, từ đó kích hoạt hệ thống enzyme đặc biệt tron tế bào đích tương ứng.

Cơ bắp trong tập thể thao: sức mạnh, năng lượng và sức chịu đựng

Người đàn ông được cung cấp đầy đủ testosterone hoặc những người đã tăng cơ bắp của mình thông qua một chương trình tập luyện thể thao sẽ tăng sức mạnh cơ tương ứng.

Sinh lý tiêu hóa ở miệng và thực quản

Nhai là hoạt động cơ học của miệng có tác dụng nghiền xé thức ăn và trộn đều thức ăn với nước bọt. Nhai là một động tác nửa tự động, có lúc nhai được thực hiện tự động nhưng có khi được thực hiện chủ động.

Tác dụng ngoài nhân của Aldosterol và các hormon steroid khác

Tác động ngoài nhân này do gắn với steroid trên reeceptor màng tế bào mà được cùng với các hệ thống truyền tin thứ hai, tương tự như dùng truyền tín hiệu của hormon peptid.

Dịch lọc qua mao mạch: áp lực thủy tĩnh, áp lực keo huyết tương và hệ số lọc mao mạch

Áp lực thủy tĩnh có xu hướng để đẩy dịch và các chất hòa tan qua các lỗ mao mạch vào khoảng kẽ. Ngược lại, áp lực thẩm thấu có xu hướng gây ra thẩm thấu từ các khoảng kẽ vào máu.

Tiêu hóa chất béo khi ăn

Bước đầu tiên trong tiêu hoá chất béo là phá vỡ tự nhiên các giọt mỡ thành kích thước nhỏ để những enzyme tiêu hoá tan trong nước có thể tác động lên bề mặt các giọt mỡ.

Insulin là hormon liên quan đến sự thừa năng lượng

Carbohydrate dư thừa nếu không thể được dự trữ dưới dạng glycogen sẽ được chuyển thành chất béo dưới sự kích thích của insulin và được dự trữ ở mô mỡ.

Synap thần kinh trung ương: Receptor kích thích hay ức chế tại màng sau synap

Thay đổi về quá trình chuyển hóa nội bào ví dụ như làm tăng số lượng thụ thể màng kích thích hoặc giảm số lượng thụ thể màng ức chế cũng có thể kích thích hoạt động của tế bào thần kinh.

Sự di chuyển của trứng đã thụ tinh trong ống dẫn trứng

Progesterone tăng tiết ra nhiều bởi hoàng thể buồng trứng đầu tiên thúc đẩy tăng thụ thể progesterone ở các tế bào cơ trơn ống dẫn trứng, sau đó progesterone kích thích các thụ thể, gây giãn ống cho phép trứng đi vào tử cung.

Hoạt động chuyển hóa tế bào của Aldosterol

Aldosterol không có tác dụng vận chuyển natri ngay lập tức; đúng hơn tác dụng này phải chờ hình thành liên tục những chất đặc biệt cần thiết vận chuyển natri.

Tổ chức lại cơ để phù hợp với chức năng

Các đường kính, chiều dài, cường độ, và cung cấp mạch máu của chúng bị thay đổi, và ngay cả các loại của sợi cơ cũng bị thay đổi ít nhất một chút.

Chất kháng giáp ức chế bài tiết của tuyến giáp

Thuốc kháng giáp được biết đến nhất là thyocyanate, propyl-thiouracil, và nồng độ cao iod vô cơ, những thuốc này ngăn chặn bài tiết hormon giáp theo những cơ chế khác nhau.

Điều hòa bài tiết insulin

Kích thích tiết insulin bởi amino acid là quan trọng bởi vì insulin lần lượt tăng cường vận chuyển amino acid tới tế bào, cũng như sự hình thành protein trong tế bào..

Bài tiết dịch tiêu hóa ruột bởi hang Lieberkuhn

Tế bào biểu mô nằm sâu trong các hang tuyến Lieberkuhn liên tục phân chia, và những tế bào mới di chuyển dọc theo màng đáy lên phía trên và ra ngoài tới đỉnh của các lông nhung.

Hệ thống thần kinh của ruột: chi phối thần kinh đường tiêu hóa

Mặc dù hệ thần kinh ruột có chức năng độc lập với hệ thần kinh ở bên ngoài, nhưng khi bị kích thích bởi hệ giao cảm và phó giao cảm có thể làm tăng hoặc giảm chức năng của ruột, điều này chúng ta sẽ thảo luận sau.

Canxi ở huyết tương và dịch nội bào

Nồng độ canxi trong huyết tương chỉ chiếm khoảng 1 nửa tổng. Canxi dạng ion tham gia vào nhiều chức năng ,bao gồm tác dụng của canxi lên tim, hệt thần kinh, sự tạo xương.

Say độ cao: phù phổi và phù não

Thi thoảng, một người ở độ cao quá lâu sẽ bị say núi mạn, thường sẽ xảy ra các hiện tượng: (1) Khối lượng hồng cầu và hematocrit tăng cao đặc biệt. (2) áp lực động mạch phổi tăng cao thậm chí cao hơn mức tăng bình thường do quen khí hậu.

Rung thất: điện tâm đồ điển hình

Vì không có bơm máu trong khi rung thất nên tình trạng này sẽ dẫn đến tử vong nếu không có những liệu pháp mạnh như shock điện ngay lập tức.

Giai đoạn trơ sau điện thế màng hoạt động: không có thiết lập kích thích

Nồng độ ion canxi dịch ngoại bào cao làm giảm tính thấm của màng các ion natri và đồng thời làm giảm tính kích thích. Do đó, các ion canxi được cho là một yếu tố “ổn định”.

Sinh lý sinh dục nam giới

Mỗi người nam có 2 tinh hoàn, khi trưởng thành mỗi tinh hoàn có kích thước trung bình khoảng 4,5 x 2,5 cm, nặng khoảng 10 - 15 gram.

Truyền suy nghĩ trí nhớ và thông tin khác giữa hai bán cầu đại não: chức năng thể chai và mép trước trong

Hai bán cầu đại não có khả năng độc lập trong ý thức, trí nhớ, giao tiếp và điều khiển chức năng vận động. Thể chai cần thiết cho hai bán cầu trong các hoạt động phối hợp ở mức tiềm thức nông.