Ghép tạng trong lâm sàng

2017-01-18 12:58 PM

Chỉ định ghép tim khi bệnh tim ở giai đoạn cuối hoàn toàn kháng với điều trị nội khoa, Người cho và người nhận phải được so nghiệm để loại trừ các kháng thể kháng HLA.

Ghép cơ quan thường hay được dùng trong điều trị nhiều bệnh. Hạn chế chính của cách điều trị này là khan hiếm cơ quan người cho và giá thành cao của phương pháp ghép hoàn hảo trước hết là do không hoà hợp tổ chức và thiếu các phương pháp giảm miện dịch an toàn và tuyệt đối có hiệu quả để ngăn chặn thải mảnh ghép. Quan tâm lớn lao trong việc tránh lây lan các yếu tố nhiễm khuẩn (như HIV, HBV, HCV, CMV) từ người cho sang người nhận đòi hỏi phải làm test huyết thanh rộng rãi trước khi tiến hành ghép.

Ghép thận

Bệnh thận giai đoạn cuối là một chỉ định ghép thận. Thận của người cho liên quan có HLA phù hợp cả so nghiệm ABO hồng cầu có đến 90% sống thêm được 1 năm, ghép kém đồng nhất sẽ có tỷ lệ sống thêm thấp hơn một chút. Ghép thận của tử thi so nghiệm cũng sống sót gần như trên, nhất là nếu người nhận không có kháng thể chống lại kháng nguyên của người cho. Một phản ứng chéo dương tính bằng nghiệm pháp độc tế bào giữa huyết thánh người nhận và tế bào người cho được có như chỉ định ghép sàng lọc người cho phải được tiến hành trong mọi trường hợp để tránh lan truyền HIV và các tác nhân nhiễm khuẩn khác. Điều trị trước cho người nhận bằng truyền máu của người cho thấy đã làm kéo dài hơn đời sống của mảnh ghép. Loại thải mảnh ghép được biểu hiện bằng giảm chức năng thận và được điều trị bằng các thuốc ức chế miễn dịch, đặc biệt là cyclosporin.

Ghép tim

Chỉ định ghép tim khi bệnh tim ở giai đoạn cuối hoàn toàn kháng với điều trị nội khoa. Người cho và người nhận phải được so nghiệm để loại trừ các kháng thể kháng HLA ở người nhận vì đây là dịp hiếm có cho định typ HLA. Chẩn đoán thải bỏ mạch ghép bằng sinh thiết nội tâm mạc cơ tim và điều trị bằng các thuốc ức chế miễn dịch, đặc biệt là cyclosporin. Kết quả sống thêm 5 năm lên tới 80% ở các trung tâm chuyên sâu.

Ghép phổi

Ghép phổi thường hay kết hợp với ghép tim vì đạt kết quả rất nghèo nàn khi chỉ ghép phổi đơn độc. Ghép tim-phổi kết hợp có khoảng gần 65% sống sót thêm một năm, còn nếu chỉ ghép phổi đơn độc, chỉ vào khoảng 60% sống thêm.

Ghép gan

Chi định chính của ghép gan là rối loạn chức năng gan được biểu hiện bàng các bất bình thường về tổng hợp và điều chỉnh có thể gây tiến triển đến tử vong trong 2 năm và không có những tai biến toàn thân nghiêm trọng của suy gan. Trẻ em có những khuyết tật phát triển (như hẹp đường mật ngoài gan, sai lệch chuyển hóa bẩm sinh) là những người nhận ghép điển hình. Chỉ định ghép gan ở người lớn trong những trường hợp chọn lọc bao gồm viên gan mạn tính tiến triển (mặc dù nguy cơ bệnh tái phát trong ghép là có thật), xơ gan mật tiên phát, viêm đường mật xơ cứng và các sai lạc chuyển hóa bẩm sinh. Người nhận được chọn lọc trên cơ sở so nghiệm ABO và kích cơ cơ quan. Định typ HLA không đạt được những kết quả thực tế, Sống thêm chiếm khoảng 70 - 80%.

Ghép tụy và tế bào tiểu đảo

Mặc dù phương pháp này thường được thực nghiệm rộng rãi, nhưng chỉ định là suy tụy và trong một vài trường hợp đái tháo đường. Kết quả lâm sàng đã nâng lên, ở các trung tâm chuyên sâu cho thấy ghép sống sót 1 năm lên tới 80%,.

Ghép tủy xuơng

Bệnh bạch cầu, thiếu máu suy tủy và các sai lệch miễn dịch bẩm sinh thường là những chỉ định chính ghép tủy. Chiếu tia và các thuốc ức chế miễn dịch được dùng để chuẩn bị cho người nhận. So nghiệm chặt chẽ HLA là chủ yếu cho ghép tủy xương đạt kết quả. Bệnh mảnh ghép chống túc chủ (graft-versus-host) gây nên bởi sự tấn công của tế bào người cho trên tế bào không hoà hợp tố chức của người nhận có thể rất mạnh mẽ. Điều này thường xẩy ra ở người lớn làm hạn chế việc ghép tủy xương không hoà hợp tố chức cho nhóm tuổi này. Tủy tự thân thu lượn được trong thời kỳ không mắc bệnh thường hay được sử dụng có kết quả cho việc tái tạo tủy ở những bệnh nhân chọn lọc. Nhiễm khuẩn trong thời gian mất khả năng miễn dịch có thể là những vấn đề đe doạ tính mạng.

Tỷ lệ thành công của ghép tủy xương phần lớn phụ thuộc vào bệnh mắc phải, nguy cơ phối hợp của tái phát (trong trường hợp bệnh bạch cầu), mức độ so nghiệm giữa người cho và người nhận, mức độ có thể có của bệnh mảnh ghép chống túc chủ, tuổi của người nhận (trên 30 tuổi, tần suất mắc bệnh mảnh ghép chống túc chủ tăng lên) và những tai biến phối hợp có điều kiện (bệnh tắc tĩnh mạch gan và nhiễm khuẩn). Nhìn chung tỷ lệ thành công vào khoảng 60 - 70% trong suy tủy, 40 - 75% sống thêm 1 năm trong các thể bệnh bạch cầu và rất thay đổi trong các bệnh suy giảm miễn dịch.

Các tổ chức và cơ quan khác

Ghép các tổ chức hay cơ quan khác (như da, võng mạc, xương và các van tim) hiện nay là phương thức phẫu thuật thường nhật. Rất nhiều nghiên cứu còn lại phải được làm tiếp cho việc ghép các cơ quan khác, đặc biệt là tổ chức thần kinh.

Bài mới nhất

Thuốc kích thích hoặc ức chế neuron hậu hạch giao cảm và phó giao cảm

Dược lý của hệ thần kinh tự chủ

Kiểm soát hệ thần kinh tự chủ của hành cầu và não giữa

Báo động hoặc phản ứng stress của hệ thần kinh giao cảm

Kích thích riêng và đồng loạt bởi hệ giao cảm và phó giao cảm

Các phản xạ tự chủ của hệ thần kinh

Sự nhạy cảm quá mức của các cơ quan chịu sự chi phối của hệ giao cảm và phó giao cảm sau khi loại bỏ dây thần kinh

Kích thích và trương lực của hệ giao cảm và phó giao cảm

Tác động của bệnh ngoài da đối với bệnh nhân

Hỏi về những triệu chứng bệnh của da trên lâm sàng

Hiểu cấu trúc và sinh lý học của da khi khám lâm sàng

Quan sát khi thăm khám bệnh về da

Lịch sử nghề nghiệp và môi trường khi hỏi bệnh

Đánh giá diễn biến bệnh hiện tại và các triệu chứng

Các kỹ thuật hỏi bệnh khai thác bệnh sử cơ bản

Các bước hỏi bệnh khi thăm khám lâm sàng

Phát hiện triệu chứng và dấu hiệu qua hỏi bệnh

Nguyên tắc cơ bản của hỏi bệnh khai thác bệnh sử khi khám bệnh

Mục tiêu của khám bệnh nhân

Thực hiện kiểm soát nhiễm trùng khi điều trị bệnh nhân

Các kỹ năng cần thiết khi khám lâm sàng

Chức năng tủy thượng thận: giải phóng adrenalin và noradrenalin

Kích thích hệ giao cảm và phó giao cảm gây kích thích và ức chế

Các receptor ở các cơ quan đích hệ giao cảm và phó giao cảm

Bài tiết acetylcholine hoặc noradrenalin của các sợi thần kinh giao cảm và phó giao cảm