Các test phát hiện tự kháng thể liên quan với các bệnh tự miễn

Ngày: 13 - 1 - 2017

Kháng thể của nhiều kháng nguyên tổ chức khác nhau có thể được phát hiện dễ dàng bằng test ELISA. Kháng nguyên đã chiết xuất ra và đã làm tinh khiết được cố định vào một hố lõm vi chuẩn độ hay những hạt bằng plastic.

Các xét nghiệm tìm tự kháng thể cũng tương tự như những xét nghiệm phát hiện kháng thể chống kháng nguyên lạ. Có 4 phương pháp thường được áp dụng trình bày dưới đây.

Rất nhiều tự kháng thể là không đặc hiệu cho một thể bệnh nào đó (như kháng thể kháng nhân, yếu tố dạng thấp). Các test cho những tự kháng thể gần đây nhất rất hay được dùng khi chẩn đoán lâm sàng không chắc chắn trong đó một kết quả âm tính làm cho chẩn đoán của một vài bệnh tự miễn không được chắc chắn. Thí dụ một test kháng thể - kháng nhân âm tính làm cho chẩn đoán bệnh lupút ban đỏ hệ thống không được chắc chắn vì kháng thể này thấy trong huyết thanh của hơn 95% bệnh nhân bị lupút.

Ngưng kết kháng nguyên bề mặt hồng cầu

Hồng cầu (của người, cừu) được ủ với acid tannic hay các hóa chất khác làm cho bề mật tế bào trở nên dính. Sau đó hồng cầu được ủ với kháng nguyên đặc hiệu tinh khiết (như thyroglobulin) và kháng nguyên này được hấp thu trên bề mặt tế bào. Tế bào phủ kháng nguyên lơ lửng trong huyết thanh bệnh nhân và kháng thể được phát hiện bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu, các latex phủ kháng nguyên được thay thế cho hồng cầu trong các test cố định latex.

Nghiệm pháp miễn dịch liên kết men (Enzyme Linked – immunoassays - ELISA)

Kháng thể của nhiều kháng nguyên tổ chức khác nhau có thể được phát hiện dễ dàng bằng test ELISA. Kháng nguyên đã chiết xuất ra và đã làm tinh khiết được cố định vào một hố lõm vi chuẩn độ hay những hạt bằng plastic. Huyết thanh bệnh nhân được cho thêm vào và các protein dư thừa đã được loại bỏ bằng rửa và ly tâm. Một kháng thể thứ hai hợp với một enzym (như alkalin phosphatase) được cho thêm vào, cơ chất của enzym lúc ấy đựợc cho vào và màu sắc tạo thành sẽ được đo bằng quang phổ kế. Test này cũng có thể được áp dụng để phát hiện kháng nguyên bằng cách để kháng thể trên bề mặt đĩa plastic. Nghiệm pháp ELISA được áp dụng rất rộng rãi trong xét nghiêm lâm sàng.

Soi hiển vi miễn dịch huỳnh quang

Kỹ thuật thường rất hay dùng để phát hiện kháng thể kháng nhân. Một cắt đoạn lạnh của gan chuột hay các cơ chất khác được cắt và đặt trên lam kính. Huyết thanh bệnh nhân đặt trên lớp cắt đoạn và được rửa kỹ. Để lên đo globulin miễn dịch của thỏ chống người liên kết với chất huỳnh quang (fluorescein) và rửa sạch. Kháng thể kháng nhân được gắn một cách đặc hiệu vào nhân và chất liên kết huỳnh quang gắn vào kháng thể người. Tính huỳnh quang của nhân quan sát được bằng kính hiển vi huỳnh quang chỉ rõ test dương tỉnh.

Cố định bố thể

Kháng nguyên đặc hiệu, huyết thanh chưa biết cần xét nghiệm và bổ thể cũng tác động vào nhau. Hồng cầu cừu được phủ bằng kháng thể kháng hồng cầu cừu sau đó được cho thêm vào hỗn hợp phản ứng trên trong 30 phút ở 370C. Hiện tượng tan hồng cầu cừu chỉ rõ là có bổ thể (dính vào bề mặt hồng cầu cừu). Thiếu vắng hiện tượng tan hồng cầu cừu cho thấy bổ thể đã được cố định bởi tương tác của kháng thể trong huyết thanh với kháng nguyên đặc hiệu. Thiếu vắng hiện tượng tan là một test dương tính chứng tỏ sự hiện diện kháng thể đặc hiệu trong huyết thanh.

Điều trị các bệnh tự miễn

Việc điều trị các bệnh tự miễn gồm nhiều cách tiếp cận khác nhau. Loại trừ việc sản sinh tự kháng thế bằng các corticosteroid và các chất độc tế bào thường là hiệu nghiệm. Các thuốc chống viêm như aspirin. Các chống viêm không phải steroid, colchicin và các corticosteroid giải toả sự nguy hại tổ chức khỏi phức hợp miễn dịch. Thay huyết tương (plasmapheresis) để loại bỏ các tự kháng thể độc hại và các phức hợp miễn dịch lưu hành liên quan với các thuốc độc tế bào thường hay được sử dụng trong một số bệnh. Tất cả những mô hình này đều trực tiếp trên các triệu chứng vì những nguyên nhân cơ bản của các rối loạn này vẫn còn chưa rõ.

Bài xem nhiều nhất

Điều trị các bệnh dị ứng

Loại trừ tiếp xúc với dị nguyên sẽ chữa được vấn đề đặc hiệu nhưng nó có thể hoặc không có thể làm giảm tính nhạy cảm miễn dịch cơ bản với dị nguyên này. Sự thành công đòi hỏi chẩn đoán đúng dị nguyên gây bệnh trong mỗi trường hợp.

Cơ chế tác động của các thuốc ức chế miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Cocticosteoid ức chế đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào mạnh hơn là đáp ứng kháng thể. Tế bào T giúp đỡ thường giảm trước tiên do có hiện tượng phân phối lại. Bạch cầu trung tính tăng lên do sự đi ra ngoài rìa và phóng thích của tủy xương.

Phân loại các bệnh dị ứng (chẩn đoán và điều trị)

Trong vòng mấy phút sau khi trình diện với dị nguyên, các chất trung gian vận mạch và viêm được hoạt hóa và được phóng thích từ các tế bào bón gây dãn mạch, co thắt cơ trơn ở các tạng và kích thích các tuyến tiết chất nhầy.

Chẩn đoán các bệnh dị ứng

Thăm khám thực tế sẽ phát hiện dấu hiệu của bệnh cấp tính nếu người bệnh được thăm khám ngay trong thời gian tiếp xúc với dị nguyên. Những nghiên cứu điện quang hay các xạ hình khác có thể là cần để trợ giúp cho thăm khám thực thể.

Cấu trúc và chức năng của Globulin miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Các gen mã hóa cho các phân tử globulin miễn dịch chuỗi nhẹ và nặng trải qua những sắp xếp lại trong các ADN của tế bào B dẫn đến việc tổng hợp và biểu hiện của nhóm rất khác nhau của phân tử globulin miễn dịch.

Sự liên quan giữa kháng nguyên HLA và các bệnh đặc hiệu

Nghiên cứu cho thay phối hợp mạnh nhất là giữa HLA B27 và bệnh nhân viêm cột sống dính khớp mà mọi nhóm dân tộc đều bị nhưng thường là ờ dân Nhật Bản nhiều hơn là dân Cáp ca-zơ.

Kiểm soát di truyền của đáp ứng miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Trong vùng di truyền xác định phức hợp kháng nguyên ghép chủ yếu, có những gen xác định tính khả năng làm tăng đáp ứng miễn dịch đặc hiệu. Chúng được gọi là gen đáp ứng miễn dịch hay gen Ir (Immune response).

Ghép tạng trong lâm sàng (chẩn đoán và điều trị)

Chỉ định ghép tim khi bệnh tim ở giai đoạn cuối hoàn toàn kháng với điều trị nội khoa. Người cho và người nhận phải được so nghiệm để loại trừ các kháng thể kháng HLA ở người nhận vì đây là dịp hiếm có cho định typ HLA.

Tự miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Hoạt động của tế bào T ngăn chặn bị giảm sút dẫn đến sự điều chỉnh đáp ứng miễn dịch bị rối loạn và có thể khởi phát hoạt động quá mức của các cơ chế tự phản ứng khác.

Các test phát hiện tự kháng thể liên quan với các bệnh tự miễn

Kháng thể của nhiều kháng nguyên tổ chức khác nhau có thể được phát hiện dễ dàng bằng test ELISA. Kháng nguyên đã chiết xuất ra và đã làm tinh khiết được cố định vào một hố lõm vi chuẩn độ hay những hạt bằng plastic.

Hội chứng suy giảm miễn dịch (AIDS, chẩn đoán và điều trị)

Trong AIDS, các miễn dịch cho thấy một suy giảm nặng có chọn lọc chức năng và số lượng lympho bào T cùng với giảm nhẹ số lượng lympho bào B. Người bệnh thường bị vô ứng (anergy).

Suy giảm miễn dịch thứ phát (chẩn đoán và điều trị)

Suy giảm miễn dịch phối hợp với bệnh sarcoid đặc trưng bởi suy giảm một phần chức năng tế bào T, trong khi chức năng tế bào B bình thường hoặc tăng. Người bị bệnh sarcoid thường là tương đối không phản ứng với tiêm trong da các kháng nguyên thông thường.

Định tuyp HLA (chẩn đoán và điều trị)

Định typ của lớp kháng nguyên II HLA - DR và - DQ được tiến hành như đã mô tả trên, trừ lympho D phân lập ra được sử dụng như đích ít hơn là các lympho bào máu ngoại biên không phân lập, kháng nguyên của loại HLA - P và - DP được phát hiện in vitro bằng tính phản ứng của tế bào.

Các test miễn dịch tế bào (chẩn đoán và điều trị)

Dấu ấn tế bào T bao gồm các kháng nguyên bề mặt được phân lập bằng kháng thể đơn dòng đặc hiệu. Kháng huyết thanh đơn dòng đã được dùng cả trong miễn dịch nhuộm huỳnh quang lẫn trong thử nghiệm độc tế bào in vitro để phân lập dưới tập hợp tế bào T.

Suy giảm miễn dịch biến thiên thông thường

Nguyên nhân của giảm gammaglobulin máu toàn bộ trong tuyệt đại đa số bệnh nhân suy giảm miễn dịch biến thiên thông thường là một sai lạc của tế bào B nội tại trong sản xuất kháng thể.