Định tuyp HLA (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 17 - 1 - 2017

Định typ của lớp kháng nguyên II HLA - DR và - DQ được tiến hành như đã mô tả trên, trừ lympho D phân lập ra được sử dụng như đích ít hơn là các lympho bào máu ngoại biên không phân lập, kháng nguyên của loại HLA - P và - DP được phát hiện in vitro bằng tính phản ứng của tế bào.

Phương pháp chuẩn để phát hiện kháng nguyên HLA - A,- B và - C là tính vi độc tế bào lympho. Lympho bào được phân lập từ máu ngoại biên hay hạch bạch huyết, được cho vào mỗi hố của một rãnh định typ đã có đầy huyết thanh có kháng thể đồng loài độc tế bào phù hợp. Sau khi để cho kháng thể đồng loài gắn vào lympho bào đích, cho thêm bổ thể. Những tế bào nào mà kháng thể đã được gắn đặc hiệu sẽ hoạt hóa bổ thể ở bề mặt tế bào, dẫn đến bị chết hay bị tiêu tế bào. Bằng cách cho thêm một thuốc nhuộm sống (như eosin, Huorescein diacetat hay xanh trypan) những tế bào sống hay không sống được có thể bị phân biệt riêng ra. Như vậy có thể định typ cho tất cả tính đãc hiệu của HLA - A, - B và - C đã biết hiện nay, nguồn tốt nhất của kháng huyết thanh đồng loài là phụ nữ đã đẻ. 10 - 30% trong số họ trở thành mẫn cảm trong khi có thai với kháng nguyên người chồng mang trên thại nhi, một số ít kháng thể cũng được cung cấp bởi những cá nhân đã được mẫn cảm đồng loài bằng các nguyên nhân khác (như truyền máu hay ghép, một số ít kháng thể đơn dòng cũng được dùng).

Định typ của lớp kháng nguyên II HLA - DR và - DQ được tiến hành như đã mô tả trên, trừ lympho D phân lập ra được sử dụng như đích ít hơn là các lympho bào máu ngoại biên không phân lập, kháng nguyên của loại HLA - P và - DP được phát hiện in vitro bằng tính phản ứng của tế bào. Lympho bào của một cá thể sẽ trải qua quá trình tổng hợp ADN và tăng sinh nhờ sự gặp gỡ các lympho bào từ cá thể khác có những kháng nguyên HLA - D lạ. Tế bào người được chiếu xạ hay xử lý bằng mitomycin để loại bỏ các khả năng đáp ứng miễn dịch của chúng. Những tế bào "kích thích" này sau đó được trộn với các lympho bào máu ngoại biên của người nhận máu (repponder) ở trong môi trường phản ứng bạch cầu hỗn hợp (MLR - mixod leucocyte reaction). Một người phản ứng lại thiếu chất kích thích kháng nguyên D sẽ đáp ứng bằng cách phá vỡ sự tổng hợp và tăng sinh ADN mà có thể được đo lường một cách nhanh chóng bằng cách ủ ADN trong thymidin triliat, người phản ứng lại có kháng nguyên D của người cho sẽ vẫn không phản ứng.

Kháng nguyên HLA - DP được phân lập bằng sự mở rộng MLR được gọi là định typ lympho bào có chỉ dẫn việc kích thích chỉ dẫn tiếp theo ở MLR đầu tiên, tế bào phản ứng được tái kích thích ở MLR thứ hai bởi một tế bào kích thích khác. Nếu hai tế bào kích thích tham gia cùng một kháng nguyên DP không có chất phản ứng, các tế bào phản ứng lại sẽ biểu thị một đáp ứng tăng sinh nhanh nhậy.

Mặc dù các tế bào lympho sống được đòi hỏi kỹ thuật yêu cầu và các lalô có kinh nghiệm, định typ HLA là có giá trị ở các trung tâm lớn và ở các ngân hàng máu.

Bài xem nhiều nhất

Điều trị các bệnh dị ứng

Loại trừ tiếp xúc với dị nguyên sẽ chữa được vấn đề đặc hiệu nhưng nó có thể hoặc không có thể làm giảm tính nhạy cảm miễn dịch cơ bản với dị nguyên này. Sự thành công đòi hỏi chẩn đoán đúng dị nguyên gây bệnh trong mỗi trường hợp.

Cơ chế tác động của các thuốc ức chế miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Cocticosteoid ức chế đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào mạnh hơn là đáp ứng kháng thể. Tế bào T giúp đỡ thường giảm trước tiên do có hiện tượng phân phối lại. Bạch cầu trung tính tăng lên do sự đi ra ngoài rìa và phóng thích của tủy xương.

Phân loại các bệnh dị ứng (chẩn đoán và điều trị)

Trong vòng mấy phút sau khi trình diện với dị nguyên, các chất trung gian vận mạch và viêm được hoạt hóa và được phóng thích từ các tế bào bón gây dãn mạch, co thắt cơ trơn ở các tạng và kích thích các tuyến tiết chất nhầy.

Chẩn đoán các bệnh dị ứng

Thăm khám thực tế sẽ phát hiện dấu hiệu của bệnh cấp tính nếu người bệnh được thăm khám ngay trong thời gian tiếp xúc với dị nguyên. Những nghiên cứu điện quang hay các xạ hình khác có thể là cần để trợ giúp cho thăm khám thực thể.

Cấu trúc và chức năng của Globulin miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Các gen mã hóa cho các phân tử globulin miễn dịch chuỗi nhẹ và nặng trải qua những sắp xếp lại trong các ADN của tế bào B dẫn đến việc tổng hợp và biểu hiện của nhóm rất khác nhau của phân tử globulin miễn dịch.

Sự liên quan giữa kháng nguyên HLA và các bệnh đặc hiệu

Nghiên cứu cho thay phối hợp mạnh nhất là giữa HLA B27 và bệnh nhân viêm cột sống dính khớp mà mọi nhóm dân tộc đều bị nhưng thường là ờ dân Nhật Bản nhiều hơn là dân Cáp ca-zơ.

Kiểm soát di truyền của đáp ứng miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Trong vùng di truyền xác định phức hợp kháng nguyên ghép chủ yếu, có những gen xác định tính khả năng làm tăng đáp ứng miễn dịch đặc hiệu. Chúng được gọi là gen đáp ứng miễn dịch hay gen Ir (Immune response).

Ghép tạng trong lâm sàng (chẩn đoán và điều trị)

Chỉ định ghép tim khi bệnh tim ở giai đoạn cuối hoàn toàn kháng với điều trị nội khoa. Người cho và người nhận phải được so nghiệm để loại trừ các kháng thể kháng HLA ở người nhận vì đây là dịp hiếm có cho định typ HLA.

Tự miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Hoạt động của tế bào T ngăn chặn bị giảm sút dẫn đến sự điều chỉnh đáp ứng miễn dịch bị rối loạn và có thể khởi phát hoạt động quá mức của các cơ chế tự phản ứng khác.

Các test phát hiện tự kháng thể liên quan với các bệnh tự miễn

Kháng thể của nhiều kháng nguyên tổ chức khác nhau có thể được phát hiện dễ dàng bằng test ELISA. Kháng nguyên đã chiết xuất ra và đã làm tinh khiết được cố định vào một hố lõm vi chuẩn độ hay những hạt bằng plastic.

Hội chứng suy giảm miễn dịch (AIDS, chẩn đoán và điều trị)

Trong AIDS, các miễn dịch cho thấy một suy giảm nặng có chọn lọc chức năng và số lượng lympho bào T cùng với giảm nhẹ số lượng lympho bào B. Người bệnh thường bị vô ứng (anergy).

Suy giảm miễn dịch thứ phát (chẩn đoán và điều trị)

Suy giảm miễn dịch phối hợp với bệnh sarcoid đặc trưng bởi suy giảm một phần chức năng tế bào T, trong khi chức năng tế bào B bình thường hoặc tăng. Người bị bệnh sarcoid thường là tương đối không phản ứng với tiêm trong da các kháng nguyên thông thường.

Định tuyp HLA (chẩn đoán và điều trị)

Định typ của lớp kháng nguyên II HLA - DR và - DQ được tiến hành như đã mô tả trên, trừ lympho D phân lập ra được sử dụng như đích ít hơn là các lympho bào máu ngoại biên không phân lập, kháng nguyên của loại HLA - P và - DP được phát hiện in vitro bằng tính phản ứng của tế bào.

Các test miễn dịch tế bào (chẩn đoán và điều trị)

Dấu ấn tế bào T bao gồm các kháng nguyên bề mặt được phân lập bằng kháng thể đơn dòng đặc hiệu. Kháng huyết thanh đơn dòng đã được dùng cả trong miễn dịch nhuộm huỳnh quang lẫn trong thử nghiệm độc tế bào in vitro để phân lập dưới tập hợp tế bào T.

Suy giảm miễn dịch biến thiên thông thường

Nguyên nhân của giảm gammaglobulin máu toàn bộ trong tuyệt đại đa số bệnh nhân suy giảm miễn dịch biến thiên thông thường là một sai lạc của tế bào B nội tại trong sản xuất kháng thể.