Áp xe gan do amíp (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 2016-1-5

By member of dieutri.vn

Thường quan sát thấy nửa cơ hoành bên phải nhô cao lên trên chụp phim X quang ngực, Siêu âm, CT scan hoặc MRI là có giá trị trong xác định vị trí và số lượng áp xe

Áp xe gan do amíp là bệnh phổ biến nhất ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở Mỹ, bệnh điển hình gặp ở những người trưởng thành trẻ gốc Tây Ban Nha. Biểu hiện là đau bụng phần tư trên bên phải, thường kèm theo sốt, đau ngực vùng màng phổi phải trung bình trong vòng 2 tuần. Lỵ kết hợp là hiếm gặp nhưng 20% bệnh nhân sẽ có giai đoạn ỉa chảy gần đây. Thường có tiền sử đi du lịch tới các vùng dịch địa phương.

Các biểu hiện lâm sàng

Khám thực thể phát hiện có sốt trong hầu hết các trường hợp, biểu hiện nhiễm độc ở các mức độ khác nhau, và gan có thể sờ thấy mềm với nhạy cảm đau như dùi đâm rõ rệt. Những bất thường ở đáy phổi phải và nhạy cảm đau khe liên sườn khu trú là thường có.

Các dấu hiệu cận lâm sàng thường bao gồm thiếu máu từ nhẹ đến vừa, tăng bạch cầu mức độ vừa phải với công thức bạch cầu chuyển trái và các xét nghiệm gan bất thường nhẹ. Các thử nghiệm huyết thanh học, thường gặp nhất là các xét nghiệm ngưng kết hồng cầu gián tiếp với Entamoeba histolytica, là dương tính trong 95% bệnh nhân nhưng có thể không chẩn đoán được dựa trên biểu hiện với tăng rõ rệt hiệu giá 3- 4 tuần sau.

Thường quan sát thấy nửa cơ hoành bên phải nhô cao lên trên chụp phim X quang ngực. Siêu âm, CT scan hoặc MRI là có giá trị trong xác định vị trí và số lượng áp xe. Hầu hết áp xe là ở thùy phải.

Điều trị

Metronidazol 750mg x 3 lần/ngày, uống trong 5 - 10 ngày là thuốc được lựa chọn. Đôi khi, cần dùng tới liệu trình này lần thứ hai. Ở bệnh nhân nhiễm độc cấp tính, chọc hút bằng kim qua da làm giảm áp ổ áp xe sẽ làm dịu ngay lập tức và cho phép phát hiện amíp trên 50% các trường hợp; nếu bệnh nhân không có biểu hiện nhiễm độc cấp, chọc hút là không cần thiết. Sau khi hết liệu trình điều trị amíp, bệnh nhân cần dùng iodoquinol 650 mg x 3 lần/ngày, sau bữa ăn, dùng trong 20 ngày (với người lớn), để tiêu diệt giai đoạn nang ruột của nhiễm amíp.

Sốt thường giảm nhanh khi bắt đầu điều trị. Khiếm khuyết ở gan có thể tồn tại dai dẳng trên các phương tiện chẩn đoán hình ảnh trong suôt 6 tháng.

Các biến chứng bao gồm vỡ ổ áp xe qua da vào khoang phúc mạc, khoang màng phổi, phổi hoặc màng ngoài tim với tỷ lệ tử vong cao nếu không được chẩn đoán. Hiếm gặp hơn là hình thành nghẽn mạch ở xa.