- Trang chủ
- Thuốc A - Z
- Thuốc gốc và biệt dược theo vần V
- Vaccin sốt vàng
Vaccin sốt vàng
Vaccin sốt vàng có tác dụng thúc đẩy hình thành miễn dịch chủ động đối với bệnh sốt vàng, được dùng cho những người có nguy cơ phơi nhiễm cao.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Tên quốc tế: Vaccinum febris flavae.
Loại thuốc: Vaccin.
Dạng thuốc và hàm lượng
Thuốc tiêm: Vaccin phòng bệnh sốt vàng là chế phẩm đông khô, giảm độc lực của chủng 17D của virus bệnh sốt vàng sống. Vaccin được điều chế bằng cách nuôi cấy virus sốt vàng sống, chủng 17D trong bào thai gà. Cứ 0,5 ml vaccin sốt vàng chứa không dưới 2000 đơn vị LD50 của chuột.
Vaccin không chứa huyết thanh người, chất bảo quản hoặc chất kháng khuẩn; vaccin không bị nhiễm virus bạch cầu chim. Sau khi được hồi nguyên bằng dung dịch natri clorid 0,9%, vaccin có màu vàng cam nhạt và hơi đục.
Tác dụng
Vaccin sốt vàng có tác dụng thúc đẩy hình thành miễn dịch chủ động đối với bệnh sốt vàng, được dùng cho những người có nguy cơ phơi nhiễm cao. Miễn dịch, nhìn chung được hình thành trong vòng 7 - 10 ngày sau khi tiêm dưới da một liều đơn vaccin sốt vàng và duy trì được ít nhất là 30 - 35 năm, có thể suốt đời.
Chỉ định
Tạo miễn dịch chủ động chống lại bệnh sốt vàng, chủ yếu dùng cho du khách hay những người sống trong những vùng có bệnh sốt vàng lưu hành. Tổ chức y tế thế giới đòi hỏi cứ 10 năm phải tái chủng vaccin sốt vàng để duy trì giấy chứng nhận tiêm chủng của du khách.
Chống chỉ định
Vaccin phòng bệnh sốt vàng chống chỉ định đối với người có nhạy cảm với protein của trứng hoặc của bào thai gà. Với người đã có tiền sử nhạy cảm với protein này, cần thực hiện test trong da bằng cách tiêm trong da 0,02 - 0,03 ml vaccin sốt vàng. Vaccin này chống chỉ định đối với người có phản ứng test trong da dương tính.
Không được dùng vaccin khi ốm nặng có sốt để tránh lẫn lộn giữa biểu hiện của bệnh và tác dụng không mong muốn có thể có của vaccin. Ốm nhẹ (không sốt hoặc sốt nhẹ) hoặc ỉa chảy, vẫn có thể tiêm phòng.
Chống chỉ định dùng vaccin sốt vàng đối với người mắc các bệnh trầm trọng như bệnh bạch cầu, u lympho, u ác tính thể lan tỏa, thiếu hụt gamma globulin, suy giảm miễn dịch thứ phát do AIDS hay các biểu hiện khác của nhiễm HIV, hoặc những người đang dùng các loại thuốc giảm miễn dịch (corticos-teroid, chiếu xạ, một vài thuốc chống ung thư). Do các cơ chế phòng vệ bị suy giảm hoặc ức chế, việc dùng các vaccin sống bao gồm vaccin sốt vàng có thể làm tăng cường sự sao chép của virus vaccin và/hoặc làm giảm sự đáp ứng tạo kháng thể của người bệnh đối với bệnh sốt vàng.
Vaccin sốt vàng chống chỉ định đối với trẻ em dưới 4 tháng tuổi (nguy cơ viêm não). Trẻ em từ 4 - 6 tháng tuổi, chỉ tiêm phòng trong điều kiện rất đặc biệt (nguy cơ nhiễm bệnh cao). Trẻ từ 6 - 9 tháng tuổi chỉ tiêm phòng khi đi vào vùng đang lưu hành dịch bệnh.
Thận trọng
Không tiêm vaccin cho người bị suy giảm miễn dịch hay người đang dùng các loại thuốc giảm miễn dịch và xạ trị. Ðối với người có tiền sử dị ứng với trứng mà bắt buộc phải dùng vaccin, thì nên chuẩn bị sẵn adrenalin. Tránh sử dụng vaccin cho trẻ em 4 - 9 tháng tuổi và người mang thai, trừ phi họ bắt buộc phải đi đến những vùng có nguy cơ lây nhiễm cao.
Thời kỳ mang thai
Chưa có công trình nghiên cứu nào về sự sinh sản ở động vật khi sử dụng vaccin sốt vàng. Còn chưa rõ là vaccin có gây tổn hại đối với bào thai khi dùng cho người mang thai hay không. Chỉ nên dùng vaccin sốt vàng cho người mang thai khi thật cần. Người mang thai nên cố gắng trì hoãn các chuyến đi tới các vùng có nguy cơ thực sự đối với căn bệnh này cho tới khi sinh đẻ xong. Nếu như phải dùng vaccin sốt vàng cho phụ nữ mang thai thì tiêm vaccin vào 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ sẽ hạn chế tới mức tối thiểu sinh quái thai.
Thời kỳ cho con bú
Do vaccin sốt vàng không phân bố vào sữa nên những bà mẹ đang cho con bú có thể dùng được, không có chống chỉ định đối với đối tượng này.
Tác dụng phụ
Nhìn chung, các tác dụng không mong muốn của vaccin sốt vàng là nhẹ và ít gặp, nếu có thì thường xảy ra vào khoảng 5 - 14 ngày sau khi tiêm vaccin. Hơi sốt, đau đầu nhẹ, đau cơ, khó chịu, hoặc các triệu chứng nhẹ khác, thường gặp ở khoảng 2 - 10% số người được tiêm vaccin.
Bệnh viêm não được xem là rất hiếm gặp sau khi tiêm vaccin sốt vàng và nếu có thì thường ở các trẻ em dưới 9 tháng tuổi. Mặc dầu nguy cơ gây viêm não sau khi tiêm vaccin sốt vàng còn chưa được xác định rõ ràng, nhưng hình như là có liên quan đến lứa tuổi. Trong hầu hết các trường hợp đã được thông báo, thì tai biến viêm não thường không nặng và đều phục hồi mà không để lại di chứng. Tuy nhiên, đã có một trường hợp tử vong ở 1 trẻ 3 tuổi. Cho đến nay, trong hơn 34 triệu liều vaccin sốt vàng đã được dùng tại Hoa kỳ thì mới chỉ xảy ra 2 ca viêm não, tạm thời là có liên quan đến tiêm vaccin.
Tai biến nhiễm virus máu do virus có trong vaccin có thể xảy ra sau khi tiêm vaccin sốt vàng 3 - 9 ngày.
Sốc phản vệ, hoặc các phản ứng mẫn cảm tức thì như phát ban, nổi mày đay và/hoặc hen suyễn có thể xảy ra nhưng hiếm (tỷ lệ dưới 1 phần triệu) sau khi tiêm vaccin sốt vàng và chủ yếu xảy ra ở những người có tiền sử dị ứng với trứng. Cần chuẩn bị sẵn adrenalin trước khi tiêm vaccin sốt vàng để kịp thời xử trí nếu như có xảy ra sốc phản vệ.
Liều lượng và cách dùng
Vaccin được tiêm dưới da. Chỉ pha vaccin sốt vàng với dung dịch pha loãng kèm theo do nhà sản xuất cung cấp (dung dịch natri clorid 0,9% không có chất bảo quản).
Liều thông thường cho người lớn và trẻ em là liều đơn 0,5 ml. Mặc dầu khả năng miễn dịch của vaccin có thể tồn tại lâu dài, nhưng theo quy định quốc tế về tiêm chủng vaccin sốt vàng hiện nay, thì phải tiêm nhắc lại 0,5 ml, 10 năm một lần.
Tương tác
Với các vaccin khác
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng đáp ứng miễn dịch đối với vaccin sốt vàng không bị ức chế khi dùng các vaccin khác đồng thời hoặc dùng cách nhau từ một vài ngày tới một tháng. Các loại vaccin như vaccin sởi, vaccin thủy đậu và vaccin sốt vàng đã được dùng phối hợp với nhau mà vẫn đảm bảo hiệu quả của từng loại. Vaccin BCG và vaccin sốt vàng đã được dùng đồng thời mà không ảnh hưởng đến nhau.Vaccin viêm gan virus B loại bất hoạt có thể được dùng một cách an toàn cùng với vaccin sốt vàng. Hiện tại chưa có thông tin về khả năng tương tác của vaccin sốt vàng với các loại vaccin khác, như vaccin thương hàn, vaccin phó thương hàn, vaccin dịch hạch, vaccin dại hoặc vaccin viêm não Nhật Bản. Dùng đồng thời vaccin sốt vàng và vaccin tả đã được thông báo là có ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng miễn dịch của mỗi loại.
Với globulin miễn dịch
Nhà sản xuất thông báo rằng nếu đã dùng globulin miễn dịch thì nên 2 tháng sau đó mới được tiêm vaccin sốt vàng; tuy nhiên, các dẫn liệu đã chỉ ra rằng globulin miễn dịch không ảnh hưởng gì tới khả năng đáp ứng miễn dịch của vaccin, vì thế vaccin có thể được dùng đồng thời và vào bất kỳ thời điểm nào, trước hoặc sau khi dùng globulin miễn dịch.
Với các thuốc giảm miễn dịch
Vì cơ chế phòng vệ bình thường bị ức chế, sử dụng các thuốc giảm miễn dịch đồng thời với vaccin phòng bệnh sốt vàng có thể tăng cường sự sao chép của virus vaccin, tăng tác dụng phụ của virus vaccin và/hoặc làm giảm đáp ứng tạo kháng thể của người bệnh đối với vaccin phòng bệnh sốt vàng. Nên hoãn việc tiêm vaccin cho đến khi nào ngừng điều trị các loại thuốc nói trên.
Ðối với truyền máu
Với những người đang được truyền máu hay truyền huyết tương, việc tiêm vaccin sốt vàng nên được hoãn lại 2 tháng sau truyền máu.
Ðối với cloroquin
Mặc dầu cloroquin có tác dụng ức chế việc sao chép của virus in vitro, nhưng loại thuốc này không có ảnh hưởng xấu tới đáp ứng miễn dịch của vaccin sốt vàng ở những người đang được uống để phòng bệnh sốt rét.
Bảo quản
Bột đông khô của vaccin sốt vàng có khả năng chịu nhiệt rất kém nên nhất thiết phải bảo quản ở nhiệt độ thấp, giữa – 30 đến 5 độ C, tốt nhất là dưới 0 độ C. Khi chuyên chở, bột vaccin phải được đóng gói trong các hộp có chứa carbon dioxyd rắn (dưới dạng băng khô) hoặc trong tủ lạnh và các dụng cụ làm lạnh khác để luôn đảm bảo nhiệt độ dưới 0 độ C. Sau khi pha, dung dịch vaccin sốt vàng cần được lưu giữ ở điều kiện nhiệt độ từ 5 – 10 độ C và dùng trong vòng 1 giờ.
Quy chế
Vaccin sốt vàng kê đơn và bán theo đơn.
Bài viết cùng chuyên mục
Viartril S
Tất cả các bệnh thoái hóa xương khớp, thoái khớp nguyên phát và thứ phát như thoái khớp gối, háng tay, cột sống, vai, viêm quanh khớp, loãng xương, gãy xương teo khớp, viêm khớp mãn và cấp.
Verospiron
Không có thuốc giải độc đặc hiệu. Bù nước và chất điện giải : dùng thuốc lợi tiểu thải kali, tiêm glucose + insulin ; trong các trường hợp trầm trọng thì tiến hành thẩm phân.
Vaccin liên hợp Haemophilus tuyp B
Vaccin được sử dụng để kích thích miễn dịch chủ động đối với nhiễm khuẩn Haemophilus influenzae typ b (Hib) bằng cách tạo kháng thể đặc hiệu.
Vancomycin
Vancomycin là kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn bằng cách ức chế quá trình sinh tổng hợp vỏ tế bào vi khuẩn, ở giai đoạn sớm hơn so với các kháng sinh nhóm beta - lactam.
Veragel DMS
Veragel DMS đươc điều chế đặc biệt để có thể kiểm soát chứng dư acide, viêm, loét dạ dày, chứng đầy bụng và chứng đau do co thắt dạ dày một cách hữu hiệu.
Vigamox
Không đeo kính áp tròng nếu có dấu hiệu và triệu chứng viêm kết mạc do vi khuẩn. Phụ nữ có thai (chỉ dùng khi lợi ích cao hơn nguy cơ), cho con bú.
Vắc xin bài liệt bất hoạt: Vaccinum poliomyelitidis inactivatum
Vắc xin bại liệt bất hoạt (IPV), trước đây còn gọi là vắc xin Salk, là loại vắc xin bất hoạt bằng formaldehyd chứa kháng nguyên của 3 typ vắc xin bại liệt
Velcade
Phản ứng phụ. Thiếu máu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính, giảm lympho bào, giảm toàn bộ huyết cầu, loạn nhịp tim, nhịp tim nhanh, rung nhĩ, hồi hộp, suy tim đợt kịch phát, phù phổi, nhìn mờ.
Vitreolent
Vitreolent chứa iodide nên có thể gây cường giáp và nổi mụn kiểu trứng cá ở những bệnh nhân có yếu tố thuận lợi.
Voltamicin
Voltamicin là sự kết hợp giữa diclofenac, một chất có tính kháng viêm, giảm đau non-steroid với gentamicin, một kháng sinh nhóm aminoglycoside. Hai hoạt chất này được dùng điều trị tại chỗ cho mắt với tác dụng riêng biệt.
Vitamin E
Vitamin E là thuật ngữ chỉ một số các hợp chất thiên nhiên và tổng hợp, chất quan trọng nhất là các tocopherol, trong đó alphatocopherol có hoạt tính nhất và được phân bố rộng rãi trong tự nhiên; các chất khác của nhóm tocopherol.
Victoza
Không cần tự theo dõi glucose huyết để điều chỉnh liều Victoza®. Khởi đầu điều trị bằng Victoza® phối hợp sulphonylurea: tự theo dõi glucose huyết có thể cần thiết để chỉnh liều sulphonylurea.
Visceralgine Forte
Thuốc này đựơc bán riêng cho bạn trong một tình huống cụ thể do đó - không thể tự ý áp dụng cho trường hợp khác - Không đưa thuốc cho người khác sử dụng.
Vitabact
Picloxydine là một chất sát khuẩn có tác động kìm khuẩn phổ rộng. Thuốc nhỏ mắt sát trùng, được dùng trong điều trị một số bệnh nhiễm ở mắt, kể cả mắt hột. Mỗi 1 lọ: Picloxydine dichlorhydrate 5mg.
Vaccin bại liệt dạng tiêm
Vaccin bại liệt tạo miễn dịch bằng cách tiêm theo chỉ định đã chứng tỏ bảo vệ phòng chống bệnh bại liệt 100%. Có thể kéo dài bảo vệ suốt đời.
Voriconazol: thuốc chống nấm Vorican 200
Voriconazol vào dịch não tủy, uống thuốc cùng bữa ăn giàu mỡ làm giảm mạnh nồng độ tối đa và diện tích dưới đường cong nồng độ thời gian
Vastarel MR: thuốc điều trị triệu chứng ở bệnh nhân đau thắt ngực ổn định
Chỉ định cho người lớn trong liệu pháp bổ sung/hỗ trợ vào biện pháp trị liệu hiện có để điều trị triệu chứng ở bệnh nhân đau thắt ngực ổn định không được kiểm soát đầy đủ hoặc bệnh nhân không dung nạp với các liệu pháp điều trị đau thắt ngực khác.
Vancocin CP
Vancomycin hydrochloride là kháng sinh thuộc nhóm glycopeptide ba vòng, được làm tinh khiết bằng phương pháp sắc ký
Mục lục thuốc và biệt dược theo vần V
V - cillin - xem Phenoxymethyl penicilin, Vaccin bạch hầu - uốn ván - ho gà hấp phụ, Vaccin bại liệt bất hoạt, Vaccin bại liệt uống, Vaccin BCG - xem Vaccin lao, Vaccin dại.
Visine Original
Visine là tên thương mại của tetrahydrozolin hydrochloride, là dung dịch đệm, vô khuẩn, đẳng trương, dùng nhỏ mắt chứa tetrahydrozolin HCl 0,05%, boric acid, sodium borate, sodium chloride và nước.
Valcyte
Ở các tế bào nhiễm virus cự bào, ganciclovir bước đầu được phosphoryl hóa thành ganciclovir monophosphate bởi men protein kinase UL 97 của virus.
Valsgim
Tăng huyết áp: khởi đầu 80 mg 1 lần ngày. Nếu huyết áp không được kiểm soát thỏa đáng: tăng tới 160 mg, hoặc thêm thuốc lợi tiểu. Bệnh nhân > 75 tuổi, giảm thể tích nội mạch.
Vitamin D
Thuật ngữ vitamin D dùng để chỉ một nhóm các hợp chất sterol có cấu trúc tương tự, có hoạt tính phòng ngừa hoặc điều trị còi xương.
Voltaren
Voltaren Emulgel là một thuốc chống viêm và giảm đau có hiệu quả, được sử dụng ngoài da. Thuốc có thành phần hoạt chất tương đương với 1% diclofénac sodique.
Ventolin
Salbutamol sulfate, có tác động chọn lọc lên thụ thể trên cơ phế quản, và có rất ít hay không có tác động lên các thụ thể ở tim với liều điều trị.
