Thanh ôn bại độc ẩm

2013-06-04 11:17 AM

Bài này dùng các vị thuốc gia giảm của 3 bài Thạch cao tri mẫu thang, Tê giác địa hoàng thang, Hoàng liên giải độc thang tạo thành.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Thành phần

1. Thạch cao             40-80 gam.

2. Tê giác                   1-4 gam.

3. Chi tử                     8-16 gam.

4. Hoàng cầm           8-16 gam.

5. Xích thược            8-16 gam.

6. Liên kiều               8-16 gam.

13. Cam thảo            3-6 gam.

7. Đan bì                    8-16 gam.

8. Sinh địa hoàng    20-40 gam.

9. Hoàng liên            4-12 gam.

10. Kiết cánh             4-8 gam.

11. Tri mẫu                8-16 gam.

12. Huyền sâm         8-16 gam.

14. Lá tre                    4-8 gam.

Cách dùng

Sắc nước chia 2 lần uống. Thạch cao đun trước chừng 10 phút sau khi sôi thì cho các vị thuốc khác vào. Tê giác mài với nước uống thẳng hoặc dùng Ngưu hoàng nhân tạo 0,5 gam, sừng trâu 40 gam thay thế.

Công dụng

Thanh nhiệt giải độc, tả hỏa, lương huyết, dưỡng âm.

Chữa chứng bệnh

Hỏa thịnh sốt cao như sốt cao đột ngột, tâm thần mê hoảng, đầu đau như búa bổ, phát ban thổ huyết, ngón tay bắt chuồn chuồn, lưỡi nổi gai, môi rộp. Hiện nay thường dùng chữa các bệnh viêm não loại B, viêm màng não cấp tính, bại huyết.

Giải bài thuốc

Bài này dùng các vị thuốc gia giảm của 3 bài Thạch cao tri mẫu thang, Tê giác địa hoàng thang, Hoàng liên giải độc thang tạo thành, cho nên nó có tác dụng đại thanh khí nhiệt tả vị hỏa của bài Thạch cao tri mẫu thang, lương huyết giải độc của bài Tê giác địa hoàng thang, tả hỏa giải độc của bài Hoàng liên giải độc thang, cho nên sách “Ôn nhiệt kinh vi” có nói về bài thuốc này “đây là thuốc tiết hỏa ở 12 kinh, dùng nhiều Thạch cao chạy thẳng vào kinh vị để từ đó phân phát đi 12 kinh, đẩy lui dâm nhiệt, phụ thêm Hoàng liên, Tê giác, Hoàng cầm để tiết hỏa tâm phế ở Thượng tiêu, dùng Đan bì, Chi tử, Xích thược tiết hỏa ở can kinh; dùng Liên kiều, Huyền sâm để tán hỏa trôi nổi đó đây; dùng Sinh địa, Tri mẫu để chế dương phù âm, tiết hỏa cực mạnh, cứu thủy sắp tuyệt; Bài này giải độc đại hàn, dùng nhiều Thạch cao thì chứng nào mạnh nhất sẽ bình ổn trước, hỏa các kinh khác tự nhiên sẽ yên”.

Cách gia giảm

Nhiệt độc bốc mạnh, phát ban mà sắc mặt tối mờ thì thêm Đại thanh diệp, Tử thảo để thanh huyết nhiệt, lương huyết tán ứ, lúc bị kinh phong về tay, gia thêm cương tàm, Thiền y, Thạch xương bồ tươi để trừ phong khai khiếu cũng có thể dùng cả Ngọc đan hoặc An cung ngưu hoàng hoàn; nếu thấy nhiệt uất vàng da (hoàng đản) có thể gia Long đởm thảo, Nhân trần, Hoàng bá để tả thấp nhiệt ở gan mật.

Bài viết cùng chuyên mục

Việt cúc hoàn

Hương phụ tính thơm lý khí, là thuốc chữa khí trong huyết, Xuyên khung trợ tá tăng thêm sức hoạt huyết hành khí.

Đại hoàng cầm thảo thang

Bài này gia Mang tiêu thì gọi là Điều vị thừa khí thang, bỏ Cam thảo gia Chỉ thực, Hậu phác gọi là Tiểu thừa khí thũng, bỏ Cam thảo gia Mang tiêu.

Huyết phủ trục ứ thang

Phương này là hợp phương của Đào hồng tứ vật thang với Tứ nghịch tán (Sài, thược, chỉ thực, Cam thảo) lại gia thêm Cát cánh, Ngưu tất.

Thanh táo cứu phế thang

Đây là phương chủ yếu trị táo nhiệt thương phế. Tang diệp, Thạch cao thanh táo nhiệt. A giao, Mạch đông, Hạnh nhân dưỡng phế âm.

Hoàng liên giải độc thang

Bài này dùng 3 vị Hoàng cầm, Hoàng liên, Hoàng bá có được tính khổ hàn để tả thực nhiệt ở Thượng trung, hạ tiêu lại phối hợp với Chi tử.

Kim phất thảo tán

Kim phất thảo ôn tán, hóa đàm, giáng khí là chủ dược, phụ với Tiền hồ tuyên hạ phế khí. Kinh giới, Tế tân, Sinh khương phát tán phong hàn.

Sâm giới tán

Cáp giới (con tắc kè đùng cả đực cái) là thuốc bổ phế ích tinh, ôn thận nạp khí để định suyễn nghịch. Nhân sâm đại bổ nguyên khí. Hai vị hợp dùng để nạp khí qui nguyên.

Thái sơn bàn thạch tán

Gia Hoàng kỳ bổ khí, Sa nhân lý khí an thai, gạo nếp ôn dưỡng tỳ vị, xuyên đoạn bổ ích can thận mà giữ thai ổn định, có hai công dụng bổ khí huyết và dưỡng thai.

Chỉ truật hoàn

Bài này dùng Bạch truật kiện tỳ, Chỉ thực tiêu đầy chướng nhưng liều lượng Bạch truật gấp đôi Chỉ thực.

Hữu quy hoàn

Bài này từ Phụ quế bát vị hoàn biến hóa đi, tức là lấy Tả quy hoàn làm cơ sở, bỏ Ngưu tất, cao Quy bản, gia thêm Phụ tử, Nhục quế, Đương quy, Đỗ trọng.

Hà nhân ẩm

Đây là thuốc đại bổ khí huyết, Hà thủ ô bổ can thận, âm huyết, dưỡng âm mà không gây thấp, làm chủ dược. (Sốt rét lâu ngày tất phải dùng Hà thủ ô mới cắt được sốt rét. So với các vị bổ dược khác, có khác nhau, còn đang được nghiên cứu).

Tử tuyết đan

Chủ trị Ngoại cảm nhiệt bệnh, tráng nhiệt, phiền táo, môi se, hôn mê nói nhàm, kinh quyết co giật, dái đỏ, đại tiện bí, cho chí trẻ em sốt cao co giật.

Hoàng bệnh phong phàn hoàn

Lục phàn có tên nữa là Tạo phàn là một loại quặng sắt (thiết khoáng thạch) thành phần là lưu toan trinh thiết (hợp chất sắt có Lưu hoàng là muối sắt với acide sulfurique. FeSO4. ND) nếu đem phi (nướng) thì đổi xanh sang đen gọi là Phong phàn.

Đại sài hồ thang

Bài này là Tiểu sài hồ thang bỏ Nhân sâm, Cam thảo gia Đại hoàng, Chỉ thực, Thược dược mà thành, kết hợp giữa hòa giải và hoãn hạ, có tác dụng sơ giải, hòa lý, tiết nhiệt, tiêu đạo.

Bán hạ hậu phác thang

Bài này thính để chữa bệnh khi hạch, kiêm chữa ngực đầy thở gấp bụng đầy đau và nôn mửa. Những chứng bệnh này hình thành chủ yếu là do đàm khí cản nhau.

Hầu tảo tán

Phương này dùng Hầu táo, Nguyệt thạch, Bối mẫu, Mông thạch để hóa đàm, linh dương giác tức phong, Xạ hương khai khiếu, Trầm hương giáng nghịch khí, dẫn đờm đi xuống.

Đại thừa khí thang

Bài thuốc này gồm hai bộ phận là tả hạ và hành khí. Đại hoàng khổ hàn nhằm tiết nhiệt, tả hỏa, giải độc.

Sâm phu thang

Bài này là đại ôn đại bổ, hồi dương cứu thoát dương, Nhân sâm đại bổ nguyên khí, Phụ tử ôn tráng chân dương, hai vị ghép với nhau làm phấn chấn dương khí, ích khí cố thoát.

Ôn kinh thang

Trước đây, người ta cho phương này là tễ tiêu biểu cho các thứ thuốc điều kinh, phần nhiều gia giảm vận dụng cốt đạt và pháp, không câu nệ vào phương.

Các loại bài thuốc đông y và cách dùng

Đem vị thuốc tán nhỏ ra, rồi dùng mật hoặc hồ ngào với bột thuốc viên lạii gọi là thuốc viên (hoàn). Khi dùng thuận tiện nhưng vì trong thuốc có cả bã nên hấp thu chậm, thường dùng chữa bệnh thư hoãn.

Thach cao tri mẫu quế chi thang

Bài này là bài tiêu biểu về dùng vị thuốc tân hàn để thanh nhiệt. Bài thuốc lấy Thạch cao vị tân hàn để thanh khí và Tri mẫu vị khổ hàn để tả hỏa làm vị thuốc chủ yếu.

Ngoại khoa thiềm tô hoàn

Mỗi lần 3-5 viên, ngày 1-2 lần với nước nóng, dùng ngoài hòa giấm dồ chỗ đau. Công dụng: Tiêu sang.

Đại hoàng giá trùng hoàn

Phương này chữa huyết khô nội kết thể hư mà trạng thực, ứ huyết không ra thì tân huyết không sinh, bổ cũng không ích gì.

Trướng tý nghiệm phương

Phương này có thể thay hổ cốt bằng báo cốt; bệnh lâu vào thận, thận chủ cốt, nếu đã hiện ra chứng các khớp dị dạng, cứng khớp thì nên dùng Tiên mao, Dâm dương hoắc, Phụ tử, Lộc giác, Thục địa, Quy bản, Tử hà xa, để ôn bổ thận dương và gia thêm các vị cố tinh.

Quất bì trúc nhự thang

Bài này dùng Nhân sâm, Cam thảo, Đại táo bổ vị hư, Trần bì hòa vị, lý khí, Trúc nhự thanh vị nhiệt, giáng nghịch khí phối hợp tạo thành.