Đánh giá diễn biến bệnh hiện tại và các triệu chứng

2022-01-18 03:58 PM

Trong quá trình đánh giá lấy bệnh nhân làm trung tâm, bác sỹ phải xác định xem có bất kỳ triệu chứng nào cũng xuất hiện hay không và chúng có ảnh hưởng gì đến bệnh nhân hay không.

Quá trình diễn biến bệnh tật hiện tại đề cập đến những thay đổi gần đây về sức khỏe khiến bệnh nhân phải đi khám tại thời điểm này. Nó mô tả thông tin liên quan đến khiếu nại chính. Nó phải trả lời các câu hỏi về cái gì, khi nào, như thế nào, ở đâu, cái nào, ai và tại sao.

Niên đại là khung thiết thực nhất để tổ chức lịch sử. Nó cho phép bác sỹ hiểu được sự phát triển tuần tự của quá trình bệnh lý cơ bản. Bác sỹ thu thập tất cả các thông tin cần thiết, bắt đầu từ các triệu chứng đầu tiên của căn bệnh hiện tại và theo dõi sự tiến triển của nó cho đến hiện nay. Để xác định thời điểm bắt đầu của bệnh hiện tại, điều quan trọng là phải xác minh rằng bệnh nhân hoàn toàn khỏe mạnh trước khi có triệu chứng sớm nhất. Bệnh nhân thường không nhớ khi nào triệu chứng phát triển. Nếu bệnh nhân không chắc chắn về sự hiện diện của triệu chứng tại một thời điểm nhất định, bác sỹ có thể liên hệ nó với sự kiện quan trọng hoặc đáng nhớ; ví dụ: ''… có bị đau trong kỳ nghỉ hè không?''.

Trong quá trình đánh giá lấy bệnh nhân làm trung tâm, bác sỹ phải xác định xem có bất kỳ triệu chứng nào cũng xuất hiện hay không và chúng có ảnh hưởng gì đến bệnh nhân hay không. Các triệu chứng này bao gồm đau, táo bón, suy nhược, buồn nôn, khó thở, trầm cảm và lo lắng.

Đau là một trong những triệu chứng và theo truyền thống thường ít được công nhận. Đau không thuyên giảm rất phổ biến và là một trong những triệu chứng đáng sợ nhất của bệnh tật. Các cuộc khảo sát chỉ ra rằng 20% ​​đến 30% dân số trải qua cơn đau cấp tính hoặc mãn tính, và đây là triệu chứng phổ biến nhất mà người lớn nhập viện phải trải qua. Hơn 80% bệnh nhân bị ung thư và hơn 2/3 số bệnh nhân tử vong vì các bệnh không phải ung thư đều gặp phải những cơn đau từ mức độ vừa đến nặng. Đau cấp tính do chấn thương hoặc các tình trạng y tế gây ra, thường ngắn và giảm dần khi chấn thương được giải quyết. Cơn đau mãn tính kéo dài sau thời gian chữa lành hoặc xuất hiện lâu hơn 3 tháng.

Ảnh hưởng của cơn đau đến chất lượng cuộc sống là điều quan trọng cần hiểu. Đau không được điều trị hoặc điều trị dứt điểm làm suy giảm sức khỏe thể chất và tâm lý, tình trạng chức năng và chất lượng cuộc sống. Đặc biệt, cơn đau có thể tạo ra đau khổ không cần thiết; giảm hoạt động thể chất, ngủ và thèm ăn khiến bệnh nhân càng suy nhược; có thể làm tăng nỗi sợ hãi và lo lắng rằng ngày kết thúc đã gần kề; có thể khiến bệnh nhân từ chối điều trị thêm; có thể làm giảm khả năng làm việc hiệu quả; có thể giảm nồng độ; có thể giảm chức năng tình dục; có thể thay đổi ngoại hình; và có thể làm giảm niềm vui giải trí và các mối quan hệ xã hội. Ngoài ra, đau có liên quan đến việc gia tăng các biến chứng y tế, tăng cường sử dụng các nguồn lực chăm sóc sức khỏe, giảm sự hài lòng của bệnh nhân và những đau khổ không cần thiết..

Do các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiếu kiến ​​thức về thuốc giảm đau, thái độ tiêu cực đối với việc sử dụng kiểm soát cơn đau, và thiếu hiểu biết về chứng nghiện, cũng như do các quy định về thuốc và chi phí kiểm soát cơn đau hiệu quả, bệnh nhân thường bị kiểm soát cơn đau không đầy đủ một cách không cần thiết. Một nghiên cứu về bệnh nhân nội trú và việc sử dụng thuốc giảm đau gây nghiện cho thấy 32% bệnh nhân vẫn tiếp tục gặp phải tình trạng đau ''nghiêm trọng'' mặc dù đã có phác đồ giảm đau, và 41% trong tình trạng đau ''mức độ trung bình''. Breitbart và cộng sự (1996) cũng tiết lộ rằng cơn đau được điều trị đáng kể ở những bệnh nhân đi cấp cứu mắc hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS). Trong số những bệnh nhân bị đau dữ dội, chỉ có 7,3% được dùng thuốc giảm đau opioid với liều lượng khuyến cáo. Khoảng 75% bị đau dữ dội hoàn toàn không dùng thuốc giảm đau opioid. Nghiên cứu để hiểu tiên lượng và ưu tiên cho kết quả và rủi ro khi điều trị (1995) chỉ ra rằng 50% bệnh nhân tỉnh táo chết trong bệnh viện phải chịu cơn đau ''vừa-nặng'' trong tuần cuối cùng của cuộc đời.

Cleeland và các cộng sự (1997) báo cáo rằng các bệnh nhân của các nhóm dân tộc thiểu số có khả năng không được điều trị đầy đủ để giảm đau. Nghiên cứu của họ cho thấy bệnh nhân thiểu số có nguy cơ được điều trị giảm đau cao gấp ba lần. Sáu mươi lăm phần trăm bệnh nhân thiểu số không nhận được đơn thuốc giảm đau theo hướng dẫn. Các bệnh nhân Latino cho biết giảm đau ít hơn so với các bệnh nhân Mỹ gốc Phi. Morrison và cộng sự (2000) đã điều tra sự sẵn có của các loại thuốc giảm đau opioid thường được kê đơn tại các hiệu thuốc ở Thành phố New York. Họ phát hiện ra rằng 50% mẫu ngẫu nhiên của các hiệu thuốc được khảo sát không có đủ thuốc để điều trị đầy đủ cho những bệnh nhân bị đau nặng. Các hiệu thuốc ở các khu vực chủ yếu là da trắng ít có khả năng dự trữ thuốc giảm đau opioid hơn so với các hiệu thuốc ở các khu dân cư chủ yếu là người da trắng.

Bất kể nguyên nhân gây ra cơn đau là gì, các bác sỹ phải hỏi nhiều lần về sự hiện diện của cơn đau và mức độ kiểm soát đầy đủ của cơn đau:

''Có phải đang đau không?''

''… có bị đau trong tuần qua không?''

''Hãy cho tôi biết cơn đau nằm ở đâu''

''Cơn đau đã ảnh hưởng đến cuộc sống như thế nào?''

''… có hài lòng với việc kiểm soát cơn đau của mình không?''

"Hãy kể cho tôi nghe thêm một chút về cơn đau”

Nó thường hữu ích với bệnh nhân lão khoa khi nói, ''Nhiều người bị đau. Có điều gì muốn nói với tôi không?''

Bệnh nhân phải có khả năng đánh giá cơn đau bằng các thang đánh giá dễ sử dụng và phải ghi lại hiệu quả giảm đau trong khoảng thời gian đều đặn sau khi bắt đầu hoặc thay đổi điều trị. Ngoài ra, điều quan trọng là phải dạy bệnh nhân và gia đình của họ cách thúc đẩy kiểm soát cơn đau hiệu quả tại nhà. Bác sỹ nên yêu cầu bệnh nhân định lượng mức độ đau của họ và nên thử sử dụng một số dạng thang đánh giá mức độ đau.