Viêm động mạch tự phát Takayasu: bệnh vô mạch

2016-11-07 10:59 AM

Bệnh vô mạch phải được phân biệt với các tổn thương mạch ở quai động mạch chủ do xơ vữa, dù rằng do xơ vữa ở cả hai chi đưâi có biểu hiện khác nhau. Về mô học, tổn thương động mạch phân biệt với viêm động mạch tế bào khổng lồ.

Xơ vữa động mạch là nguyên nhân gây ra hầu hết các bệnh động mạch. Tỷ lệ bệnh này tăng cùng với tuổi; dù rằng biểu hiện của bệnh có thể xuất hiện ở tuổi tứ tuần, nhưng khị trên 40 tuổi (đặc biệt nam giới) hầu hết thường bị nhiễm bệnh. Yếu tố nguy cơ gồm tăng cholerterol máu, đái tháo đường, hút thuốc lá và tăng huyết áp. Xơ vữa động mạch có xu hướng là một bệnh toàn thân với mức độ nào đó bao gồm tất cả các động mạch lớn, nhưng nó chỉ biểu hiện trên lâm sàng, khi tác động nặng nề vào một số hạn chế các động mạch. Hẹp và tắc lòng động mạch là biểu hiện thường gặp nhất của bệnh, nhưng thành động mạch suy yếu do mất elastin và collagen, kết quả làm giãn phình mạch cũng biểu hiện, và cả hai hậu quả này có thể biểu hiện trên cùng một cá thể. Các bệnh động mạch ít gặp hơn bao gồm viêm động mạch (cả động mạch lớn và nhỏ), viêm mạch tạo huyết khối nghẽn (bệnh Buerger), loạn sản xơ của động mạch nội tạng, viêm động mạch chủ do giang mai, và viêm động mạch lan toả.

Bệnh vô mạch, thường gặp ở phụ nữ trẻ tuổi là viêm tắc ở nhiều động mạch mà nguyên nhân chưa được biết, tổn thương đặc biệt thiên về các nhánh của quai động mạch chù. Thường xuất hiện nhất là ở châu Á. Biểu hiện phụ thuộc vào bị ở một mạch hoặc nhiều mạch, có thể gồm cả bằng chứng thiểu năng tuần hoàn não, với tai biến mạch não thoáng qua và rối loạn thị giác; mất mạch ở tay, với tuần hoàn bằng hệ phát triển nhiều ở vùng vai, ngực, và cổ. Phần lớn dấu hiệu lâm sàng thường thấy là tiếng đập. Độ lớn của các mạch tổn thương có thể xác định bằng chụp mạch.

Bệnh vô mạch phải được phân biệt với các tổn thương mạch ở quai động mạch chủ do xơ vữa, dù rằng do xơ vữa ở cả hai chi đưâi có biểu hiện khác nhau. Về mô học, tổn thương động mạch phân biệt với viêm động mạch tế bào khổng lồ. Ở giai đoạn sớm của bệnh, tiến triển của hẹp có thể đẩy lùi bằng steroid; khi bệnh tiến triển nặng hơn thì ghép một cầu nối động mạch là cần thiết.

Bài xem nhiều

Viêm mạch huyết khối tắc nghẽn: bệnh buerger

Giãn tĩnh mạch: chẩn đoán và điều trị

Viêm tĩnh mạch huyết khối ở tĩnh mạch sâu: chẩn đoán và điều trị

Hạ huyết áp và sốc: chẩn đoán và điều trị

Viêm mạch bạch huyết và viêm hạch bạch huyết: chẩn đoán và điều trị

Viêm tĩnh mạch huyết khối ở tĩnh mạch nông: chẩn đoán và điều trị

Tắc động mạch đùi khoeo: chẩn đoán và điều trị

Phình động mạch chủ ngực: chẩn đoán và điều trị

Tắc động mạch cấp: huyết khối động mạch cấp

Tắc động mạch chủ và động mạch chậu: chẩn đoán và điều trị

Tím và đỏ đau đầu chi: rối loạn vận mạch

Tắc động mạch cẳng chân và bàn chân: chẩn đoán và điều trị

Tắc mạch não: chẩn đoán và điều trị

Tắc tĩnh mạch chủ trên: chẩn đoán và điều trị

Bệnh raynaud và hiện tượng raynaud: rối loạn vận mạch

Phình động mạch chủ bụng: chẩn đoán và điều trị

Mạng xanh tím hình lưới trên da: rối loạn vận mạch

Phù bạch huyết: chẩn đoán và điều trị

Thiểu năng tĩnh mạch mạn tính: chẩn đoán và điều trị

Loạn dưỡng giao cảm phản xạ: điểm thiết yếu chẩn đoán và điều trị

Phình động mạch ngoại vi: chẩn đoán và điều trị

Tắc động mạch cấp: nghẽn động mạch

Phình tách động mạch chủ: chẩn đoán và điều trị

Thiểu năng động mạch nội tạng: thiếu máu cục bộ ruột

Bệnh động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường: chẩn đoán và điều trị