Các thể ung thư vú đặc biệt ở nữ trên lâm sàng

2016-12-03 11:56 AM

Đây là dạng ác tính nhất của ung thư vú, và chiếm dưới 3 phần trăm tất cả các trường hợp, các triệu chứng lâm sàng bao gồm u phát triển nhanh.

Ung thư Paget

Tổn thương cơ bản thường là ung thư thể ống thâm nhiễm, thường được phân loại rõ. Biểu mô núm vú bị thâm nhiễm, nhưng thay đổi về kích thước núm vú ít và có thể không sờ thấy khối u. Triệu chứng đầu tiên thường là ngứa hoặc đau rát núm vú cùng với ăn mòn bề mặt hoặc loét. Chẩn đoán có được bằng sinh thiết chỗ án mòn.

Ung thư Paget ít gặp (khoảng 1% của tất cả ung thư vú) nhưng quan trọng bởi vì bệnh biểu hiện như là lành tính. Bệnh thường được chẩn đoán và điều trị như bệnh ngoài da hoặc nhiễm khuẩn, dẫn đến phát hiện muộn. Khi tổn thương chỉ là những thay đổi ở núm vú, nguy cơ di căn hạch nách khoảng 5% và tiên lượng tốt. Khi khối u vú cùng xuất hiện thì tỉ lệ di căn hạch nách tăng lên và giảm đáng kể khả năng chữa khỏi bệnh bằng phẫu thuật hoặc phương pháp điều trị khác.

Ung thư dạng viêm

Đây là dạng ác tính nhất của ung thư vú và chiếm dưới 3% tất cả các trường hợp. Các triệu chứng lâm sàng bao gồm u phát triển nhanh, đôi khí là một khối to làm vú to lên và đau. Lớp da trên bề mặt trở nên đỏ, phù nề và nóng. Đôi khi có khối u không rõ ràng vì khối u thâm nhiễm lan toả vào vú. Chẩn đoán được xác định khi quầng đỏ chiếm hơn 1/3 da của vú và sinh thiết cho kết quả xâm lấn vào mạch bạch huyết dưới da. Có những nhầm lẫn với viêm nhiễm, vì có triệu chứng viêm gây ra bởi ung thư biểu mô xâm lấn vào mạch bạch huyết da làm phù nề và xung huyết. Nếu bác sĩ nghi ngờ viêm nhiễm nhưng tổn thương không đáp ứng nhanh với kháng sinh (1- 2 tuần) thì cần tiến hành sinh thiết. Di căn có xu hướng xuất hiện sớm và lan rộng và do nguyên nhân này mà ung thư dạng viêm ít khi chữa khỏi. Cắt bỏ tuyến vú hiếm khi được chỉ định. Điều trị bằng tia xạ, hormon và hóa trị liệu chống ung thư là các phương pháp dường như có vẻ có giá trị nhất.

Ung thư vú xuất hiện trong thời gian mang thai hoặc cho con bú

Chỉ có 1- 2% ung thư vú xuất hiện trong thời gian mang thai hoặc cho con bú. Ung thư vú trong trường hợp có thai chiếm xấp xỉ 1/3000. Chẩn đoán thường muộn bởi những thay đổi của cơ thể ở vú có thể che đậy bản chất thực của tổn thương. Những thay đổi này có thể làm cho cả bệnh nhân và bác sĩ suy luận sai về các triệu chứng và trâm trễ trong chỉ định sinh thiết. Khi khối u hạn chế ở ngực tỉ lệ sống sau 5 năm sau cắt bỏ vú khoảng 70%. Di căn hạch nách có ở 60 - 70% bệnh nhân và đối với họ tỉ lệ sống 5 năm sau khi cắt vú chỉ 30 - 40%. Trường hợp đang mang thai (hoặc cho con bú) không có chống chỉ định phẫu thuật và điều trị dựa trên giai đoạn bệnh như là ở những phụ nữ không có thai (hoặc không cho con bú). Tỉ lệ sống sau điều trị nói chung được cải thiện vì hiện nay ung thư được chẩn đoán ở phụ nữ có thai sớm hơn trước đây.

Ung thư vú hai bên

Trên lâm sàng hiện tượng ung thư vú hai bên cùng một lúc xảy ra ở dưới 1% các trường hợp, nhưng có 5 - 8% xảy ra ung thư ở vú bên kia muộn hơn. Ung thư vú hai bên hay xảy ra ở phụ nữ dưới 50 tuổi và hay xảy ra hơn khi khối u vú đầu tiên là loại tiểu thùy. Tỉ lệ mắc ung thư vú thứ hai tăng khoảng 0,5% mỗi năm cùng thời gian bệnh nhân sống sau ung thư đầu tiên.

Ở bệnh nhân ung thư vú, cần chụp X quang vú trước khi bắt đầu điều trị và chụp định kỳ sau điều trị để tìm ung thư thể ẩn ở vú bên đối diện. Không sinh thiết vú bên đối diện.

Ung thư không xâm lấn

Ung thư không xâm lấn có thể xảy ra ở trơng lòng ống tuyến (ung thư thể ống tại chỗ) hoặc trong tiểu thuỳ (ung thư tiểu thuỳ tại chỗ). Trong khi ung thư thể ống tại chỗ có biểu hiện như một ung thư sớm thì ung thư tiểu thuỳ tại chỗ có thể gọi là tân sinh tiểu thuỳ. Ung thư thể ống tại chỗ có xu hướng ở một bên vú và phần lớn tiến triển thành ung thư xâm lấn. Xấp xỉ 40 - 60% phụ nữ có ung thư thể ống tại chỗ được điều trị chỉ bằng sinh thiết sẽ phát triển ung thư xâm lấn trong cùng bên vú. Tuy vậy ung thư tiểu thuỳ tại chỗ biểu hiện như một yếu tố nguy cơ khả năng phát triển ung thư xâm lấn ở vú bên kia. Có xấp xỉ 20% phụ nữ có ung thư tiểu thuỳ tại chỗ sẽ phát triển ung thư xâm lấn (thường là thể ống). Ung thư xâm lấn này xảy ra cùng tàn suất ở vú bên kia.

Việc điều trị những tổn thương nội ống đang còn tranh cãi. Ung thư thể ống có thể điều trị bằng cắt vú toàn bộ hoặc bảo tồn vú và cắt u rộng có hoặc không điều trị tia xạ. Ung thư tiểu thuỳ tại chỗ có thể xử lý tốt nhất bằng cách theo dõi chặt. Tuy nhiên nếu bệnh nhân không chấp nhận nguy cơ cao bị ung thư vú có thể yêu cầu cắt vú toàn bộ cả hai bên. Di căn hạch nách ít gặp.

Bài mới nhất

Các bước hỏi bệnh khi thăm khám lâm sàng

Phát hiện triệu chứng và dấu hiệu qua hỏi bệnh

Nguyên tắc cơ bản của hỏi bệnh khai thác bệnh sử khi khám bệnh

Mục tiêu của khám bệnh nhân

Thực hiện kiểm soát nhiễm trùng khi điều trị bệnh nhân

Các kỹ năng cần thiết khi khám lâm sàng

Chức năng tủy thượng thận: giải phóng adrenalin và noradrenalin

Kích thích hệ giao cảm và phó giao cảm gây kích thích và ức chế

Các receptor ở các cơ quan đích hệ giao cảm và phó giao cảm

Bài tiết acetylcholine hoặc noradrenalin của các sợi thần kinh giao cảm và phó giao cảm

Giải phẫu sinh lý của hệ phó giao cảm: hệ thần kinh tự chủ

Giải phẫu sinh lý của hệ giao cảm: hệ thần kinh tự chủ

Liều tăng cường vắc-xin coronavirus (COVID-19)

Bổ xung liều thứ 3 Vắc xin Coronavirus (COVID-19)

Chức năng của vỏ Limbic

Chức năng sinh lý của thể hạnh nhân

Vai trò của hải mã trong học tập

Chức năng của vùng hải mã: vùng kéo dài của vỏ não

Tầm quan trọng của trung tâm thưởng phạt của hệ limbic đối với hành vi

Chức năng thưởng và phạt của hệ limbic

Chức năng hành vi của vùng dưới đồi và cấu trúc liên kết với hệ limbic

Điều hòa chức năng thực vật và nội tiết của vùng dưới đồi

Vùng dưới đồi: cơ quan đầu não của hệ limbic

Chức năng của hệ limbic: vị trí chủ chốt của vùng dưới đồi

Hormon điều hòa hoạt động của não