Bất thường của vú được tạo hình

Ngày: 2016-12-5

Những báo cáo gần đây cho rằng có sự liên quan giữa Silicon dạng gel và bệnh tự miễn đã làm cho nhiều nhà phẫu thuật thẩm mỹ ngừng sử dụng Silicon dạng gel làm chất liệu độn


Do sự phát triển của cấy Silicon vào vú trong những năm đầu thập kỷ 60, việc tạo hình vú cho to lên được tiến hành ở ít nhất 150.000 phụ nữ hàng năm ở Mỹ. Ước tính có gần 4 triệu phụ nữ Mỹ đã tạo hình vú. Tạo hình cho vú to lên được thực hiện bằng cách đặt chất liệu cấy vào dưới cơ ngực hoặc cẩu thả hơn là vào mô mỡ dưới da vú. Hầu hết chất liệu cấy được tạo bởi lốp Silicon cứng ở ngoài và bên trong chứa đầy Silicon dạng gel, nước muối hoặc kết hợp cả hai. Khoảng 15 - 25% bệnh nhân bị co túi lại hoặc phát triển sẹo xung quanh nơi cấy, dẫn đến vú bị cứng và méo mó và có thể gây đau. Một số cần được lấy bỏ tố chức cấy và túi.

Những báo cáo gần đây cho rằng có sự liên quan giữa Silicon dạng gel và bệnh tự miễn đã làm cho nhiều nhà phẫu thuật thẩm mỹ ngừng sử dụng Silicon dạng gel làm chất liệu độn vú như thường lệ. Sự dò rỉ chất liệu cấy có thể xảy ra ở 5 -  10% các phụ nữ, chảy dịch gel qua bao có thể còn nhiều hơn. Trong khi Silicon dạng gel có thể là chất hỗ trợ các phản ứng tự miễn thì không có số liệu lâm sàng nào chứng minh sự tăng tỷ lệ rối loạn ở mô liên kết ở bệnh nhân có cấy ghép Silicon dạng gel vào vú. Trong tháng 4 năm 1992, Cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc Hoa Kỳ kết luận rằng độ an toàn và tính hiệu quả của Silicon dạng gel cấy ghép vào vú chưa được các nhà sản xuất công bố và kêu gọi tiến hành thêm các nghiên cứu tiền lâm sàng và lâm sàng. Họ khuyên những phụ nữ có triệu chứng dò rỉ Silicon dạng gel thảo luận với bác sĩ về sự cần thiết lấy bỏ đi. Tuy nhiên, họ cần lưu ý rằng lấy đi có thể có nguy cơ cao hơn là nguy cơ của việc giữ lại ở những phụ nữ không có triệu chứng. Do đó những phụ nữ không có triệu chứng dò rỉ Silicon dạng gel đã cấy thì không nên phẫu thuật lấy bỏ đi. Tuy nhiên những phụ nữ mà có dò rỉ hoặc có những triệu chứng gợi ý về rối loạn tự miễn dịch cần trao đổi với bác sĩ về các nguy cơ và lợi ích của việc lấy bỏ đi.

Hai nghiên cứu về dịch tễ học lớn đã thất bại trong việc chỉ ra bất kỳ sự liên hệ nào giữa cấy độn vú và tăng tỉ lệ ung thư vú. Tuy nhiên ung thư vú có thể xuất hiện ở bất kỳ bệnh nhân cấy độn vú giả bằng Silicon dạng gel. Việc phát hiện ung thư vú ở những bệnh nhân cấy độn vú khó khăn hơn vì chụp X quang vú ít khả năng phát hiện những tổn thương sớm hơn. Nếu ung thư xuất hiện cần điều trị cùng một phương thức như ở phụ nữ không cấy độn vú. Những phụ nữ này nên được lựa chọn cắt toàn bộ vú hoặc điều trị bảo tồn vú. Những điều trị hỗ trợ nên được tiến hành như đối với phụ nữ không cấy độn vú.


Bài mới nhất

Bất thường của vú được tạo hình

Những báo cáo gần đây cho rằng có sự liên quan giữa Silicon dạng gel và bệnh tự miễn đã làm cho nhiều nhà phẫu thuật thẩm mỹ ngừng sử dụng Silicon dạng gel làm chất liệu độn

Hoại tử mỡ và áp xe vú

Nếu tổn thương tiến triển và hình thành một khối xác định có các dấu hiệu tại chỗ và theo hệ thống của nhiễm khuẩn, một áp xe xuất hiện và cần được dẫn lưu, phải tiếp tục chăm sóc.

Tiết dịch núm vú (chẩn đoán và điều trị)

Các thuốc tránh thai dạng uống có thể gây ra dịch tiết trong, thanh dịch hoặc sữa từ một ống tuyến nhưng thường tiết dịch thấy rõ trước khi kinh nguyệt và mất đi khi ngừng dùng thuốc.

U xơ tuyến vú (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị bằng lấy bỏ u sau gây tê tại chỗ là thủ thuật cho bệnh nhân ngoại trú và xét nghiệm mô bệnh học. Sarcom nang dạng lá là một loại u xơ tuyến với chất đệm tế bào có xu hướng phát triển nhanh.

Loạn sản vú (bệnh xơ nang)

Loạn sản vú có thể sinh ra những u cục không có triệu chứng ở vú mà có thể tình cờ được phát hiện, nhưng đau hoặc nhạy cảm đau thường gây ra sự chú ý đến khối u. Có thể có tiết dịch từ núm vú.

Bài xem nhiều nhất

Loạn sản vú (bệnh xơ nang)

Loạn sản vú có thể sinh ra những u cục không có triệu chứng ở vú mà có thể tình cờ được phát hiện, nhưng đau hoặc nhạy cảm đau thường gây ra sự chú ý đến khối u. Có thể có tiết dịch từ núm vú.

Các triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán ung thư vú ở nữ

Bệnh nhân ung thư vú thường nổi cục ở vú. Khi làm bệnh án, điểm đặc biệt cần phải ghi nhạn về các yếu tố nguy cơ ung thư vú, quãng thời gian có liên quan giữa khối u và chu kỳ kinh nguyệt và những bệnh của vú trước đó.

Tiên lượng ung thư vú ở nữ

Hầu hết bệnh nhân bị ung thư vú cuối cùng sẽ chết vì bệnh này. Tỷ lệ chết do ung thư vú luôn cao hơn tỷ lệ chết nói chung trên cùng lứa tuổi trong gần 20 năm qua.

Theo dõi sau điều trị ung thư vú ở nữ

Tỷ lệ mới mắc của tái phát tại chỗ có mối tương quan với kích thước u, sự hiện diện và số lượng các hạch nách có liên quan, typ mô học của khối u và sự xuất hiện phù nề da, dính cân cơ ngực với u nguyên phát.

U xơ tuyến vú (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị bằng lấy bỏ u sau gây tê tại chỗ là thủ thuật cho bệnh nhân ngoại trú và xét nghiệm mô bệnh học. Sarcom nang dạng lá là một loại u xơ tuyến với chất đệm tế bào có xu hướng phát triển nhanh.

Hoại tử mỡ và áp xe vú

Nếu tổn thương tiến triển và hình thành một khối xác định có các dấu hiệu tại chỗ và theo hệ thống của nhiễm khuẩn, một áp xe xuất hiện và cần được dẫn lưu, phải tiếp tục chăm sóc.

Tiết dịch núm vú (chẩn đoán và điều trị)

Các thuốc tránh thai dạng uống có thể gây ra dịch tiết trong, thanh dịch hoặc sữa từ một ống tuyến nhưng thường tiết dịch thấy rõ trước khi kinh nguyệt và mất đi khi ngừng dùng thuốc.

Điều trị triệt căn ung thư vú ở nữ

Các yếu tố về khả năng phát triển khối u và đề kháng của vật chủ thay đổi trong giới hạn rộng giữa bệnh nhân này với bệnh nhân khác và có thể thay đổi trong thời gian phát triển bệnh.

Thụ thể hormon ung thư vú ở nữ

Một số nghiên cứu cho rằng các thụ thể estrogen có giá trị tiên lượng bệnh. Bệnh nhân có u nguyên phát có thụ thể dương tính thì điều trị có hiệu quả hơn là bệnh nhân có khối u mà thụ thể âm tính.

Phát hiện sớm ung thư vú ở nữ

Sàng lọc ở phụ nữ hơn 70 tuổi nên được tiến hành sau khi bác sĩ xem xét đánh giá tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân và các bệnh khác. Phụ nữ dưới 50 tuổi cần được từ vấn cá nhân.