Hình ảnh phình động mạch chủ, tràn dịch màng tim, dày rãnh liên thùy

Ngày: 2013-4-1

By member of dieutri.vn

Nếu không còn đập thì khó phân biệt giữa một túi phình động mạch và u trung thất. Sự khó khăn lên khi u ở khu trung thất có đập 20 nhịp từ động mạch chủ hoặc tim truyền sang.

Phình động mạch chủ

Sự dãn khu trú ở một đoạn động mạch chủ, trước hết đó là một túi phồng bờ vừa tròn & đập. Bóng mờ này luôn luôn nằm trên đường đi của động mạch chủ. Tuy nhiên bản chất của nó có khi khó xác định.

Ở giai đoạn muộn, trong quá trình diễn biến túi phồng không còn giữ được hình ảnh đều đặn , không đồng nhất và cũng không còn đập nữa do sự thay đổi ở thành túi phồng.

Nếu không còn đập thì khó phân biệt giữa một túi phình động mạch và u trung thất. Sự khó khăn lên khi u ở khu trung thất có đập 20 nhịp từ động mạch chủ hoặc tim truyền sang.

Phình động mạch chủ có khi gặm mòn cột sống, do nó đào khoét vào thân đốt dưới dang hình bán nguyệt , ngược lại đĩa liên đốt không bị biến dạng.

Khi khó chẩn đoán xác định cần làm: siêu âm Doppler màu, CTA, MRA, AG. Tuy nhiên có lúc do huyết khối làm hẹp lòng mạch hoặc phình bóc tách.

Tràn dịch màng tim

Theo nhiều thống kê, hiện nay chẩn đoán hình ảnh bằng Siêu âm có độ nhạy và đọ đặc hiệu khá cao so với các phương pháp khác kể cả ECG

Trong trường hợp có dịch ở ngoài màng tim ta sẽ thấy:

Bóng tim tăng thể tích (> 400ml mới thấy được).

Bóng tim bị biến dạng: hình tam giác, hình bầu rượu, hình thang, hình tròn. Cuống tim ngắn lại, đáy rộng ra lấn vào hai trường phổi. Góc sường hoành trái và rốn phổi khó thấy được. Góc tâm hành rõ.

Bóng tim không đập.

Khi tràn dịch ít khó để chẩn đoán chính xác trên hính ảnh xquang. Nhất  là ở trẻ em lại khó hơn vì chỉ số tim lồng ngực lớn hơn ở người trưởng thành, ngoài ra còn có tuyến ức phì đai củng làm bóng tim to.

Chụp cao KV có thể hình ảnh đôi bờ

Trên film nghiêng có baryt ở thực quản, hình ảnh chèn ép kiểu đuôi chuột

Chọc rút dịch bơm hơi ta thấy hình ảnh mức hơi dịch.

Hậu quả của viêm màng tim:

Viêm màng tim có dính :bóng tim không tăng thể tích nhưng nhịp đập yếu.Nếu có xơ vôi hóa tá có thể thấy hình mảng vôi hóa một đường viền cản qua

Dính màng tim với các cơ quan lân cận:

Dính màng phổi.

Dính với cơ hoành.

Dính với thánh ngực trước.

Những trường hợp này ta thấy biên độ vận động bị giảm, thở mạnh bị hạn chế.

Hình ảnh siêu âm:

Dịch ở quanh màng ngoài tim biểu hiện là một viền trống âm (echo-free) bao quanh cơ tim. Cần lưu ý rằng, có khi lớp mỡ quanh tim rất dễ nhầm với tràn dịch.

Nếu lượng dịch ít ta có thể thấy thay đổi kích thước và vị trí khi tim đập. Nếu lượng dịch vừa phải ta có thể thấy mõm tim hoạt động tự do ở trong dịch màng ngoài tim. Lượng dịch nhiều ta thấy rất dễ, nhưng ngược lại hoạt động của tim rất bị hạn chế (tamponade cardiaque).

Trên siêu âm ta không thể kết luận chính xác bản chất của dịch, nhưng ta có thể phát hiện được những sợi xơ - fibrin, dày dính màng tim, vôi hóa máng tim với bóng lưng ở sau. 

Dày rãnh liên thùy

Các đường Kerley:

Do sự xuất hiện bất thường của dịch ở tổ chức kẽ thành phế ngang hoặc tổ chức kẽ ở nhu mô.

Đường Kerley B: Thường thấy nhất, là những đường mờ nhỏ nằm ngang, dày 1 - 2mm, dài 1cm, thường nối liền với màng phổi ở vùng đáy và góc sườn hoành (B: bases).

Đường Kerley A: Rất hiếm, là đường cong dày 1 - 2mm và dài 5 cm. Ơí vùng giữa và trên của phổi (A: apex).

Đường Kerley C : Thấy được trên fim nghiêng, do hai đường A và B tạo ra (C: croisées).

Đường Kerley D: Rất hiếm, rất dày, dày 3 - 4mm dài 4- 6 cm vị trí ở phần trước phổi thấy được trên fim nghiêng.


Hình: Hình Kerley (1. B; 2. A; 3. D; 4. C).