Hình ảnh bệnh tim mắc phải thường gặp

2013-04-01 10:27 AM

Hở van hai lá có thể do đứt dây chằng - cột cơ sau nhồi máu cơ tim, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, thấp tim, hoặc do lỗ van giãn rộng trong hội chứng Marfan, bệnh cơ tim giãn.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Hẹp van hai lá

Là bệnh tim mắc phải thường gặp ở nước ta, 50% là do thấp tim, các nguyên nhân khác là viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, u nhầy nhĩ trái. Nữ/Nam = 8/1. Bình thường diện tích lổ van từ 4 đến 6cm2 , áp lực mao mạch phổi < 10mmHg. Hẹp nhẹ khi diện tích (S) 2cm2 < S < 4cm2 , áp lực mao mạch phổi  từ 10-17mmHg. Hẹp trung bình khi:1cm2 ≤ S < 2cm2, áp lực mao mạch phổi ≥18mmHg. Hẹp nặng khi diện tích van < 1cm2, áp lực mao mạch phổi > 35mmHg.

Trên hình ảnh X quang bệnh van tim này có biểu hiện sự giãn ra của nhĩ trái chiếm ưu thế hơn cả, nhưng dấu hiệunày không phải lúc nào cũng phát hiện được, vì  chưa làm thay đổi bóng tim.

Hình ảnh X quang hẹp van hai lá nhẹ

Bóng tim chưa thấy thay đổi gì. Có thể thấy được nhĩ trái giãn tạo ra hình ảnh đôi bờ ở cung dưới phải.

Phân bố mạch máu phổi cũng chưa thấy thay đổi.

Do vậy,X quang tim-phổi bình thường không loại trừ được Hẹp van hai lá.

Hình ảnh X quang hẹp van hai lá trung bình

Cung giữa trái nỗi, nhĩ trái to về phía phải tạo nên cung thứ 3 bên phải hay hình ảnh 2 nhĩ cắt nhau.

1/3 giữa thực quản bị đẩy ra sau, trên phim nghiêng trái, chếch trước phải.

Dung lượng máu từ tâm nhĩ xuống tâm thất trái giảm, thất trái giảm thể tích.  

Ứ trệ tuần hoàn phổi kiểu ngược chiều: rốn phổi 2 bên giãn, tái phân bố tuần hoàn phổi.

Thất phải tăng gánh, cung dưới phải giãn, đường kính mD , khoảng sáng trước tim bị mất.

Hình ảnh X quang hẹp van hai nặng

Càng ngày nhĩ trái càng to ra, có thể vượt ra ngoài bờ nhĩ phải.

Cung động mạch phổi cũng to ra do tăng áp trong buồng thất phải.

Tiểu nhĩ trái giãn lớn biểu hiện bằng cung thứ 4 bên trái, ngay dưới cung động mạch phổi.

Cung thất trái cũng có thể biểu hiện là một đường thẳng hoặc lồi ra ngoài, gọi là hiện tượng hai lá hoá bờ trái.Hiện tượng này có dấu hiệu phối hợp là nốt động mạch chủ (ĐMC) nhỏ lại do giảm lượng máu về thất trái. Nếuquai động mạch chủ giãn to, cần phải chú ý xem có kết hợp thêm bệnh khác như hẹp van động mạch chủ , Hở van động mạch chủ .

Tĩnh mạch Azygos giãn (>7mm).

Phế quản gốc trái bị đẩy lên cao trên phim thẳng, bị đẩy ra sau tạo ra “dấu chân bước (Walking man sign) trên phim nghiêng trái.

Thất phải lớn cũng rõ hơn, gây nâng mõm tim lên cao và xoá mất khoảng sáng trước tim.

Hình ảnh ít gặp là vôi hóa van hai lá (40%), vôi hoá vòng van (10%) và ở thành Nhĩ (T).

Hình ảnh X quang hẹp van hai lá trung bình – nặng

Hình: Hình ảnh X quang hẹp van hai lá trung bình – nặng.

Tăng tuần hoàn phổi thụ động (Tăng tuần hoàn phổi hậu mao mạch)

Tái phân phối mạch máu phổi xuất hiện sớm khi áp lực tâm trương >12mmHg.

Xuất hiện các đường Kerley A,B,C,D khi áp lực tâm trương >18mmHg. Thường thấy nhất là Kerley B do ứ trệ, phù phổi mô kẽ. Phù phổi phế nang.

Ở người hẹp van 2 lá lâu năm, 1/3 giữa và 1/3 dưới có những đốm mờ Hemosiderine do Hb thoát ra ngoài Hồng cầu (1/3 dưới nhiều hơn 1/3 giữa).

Hở van hai lá

Hở van hai lá có thể do đứt dây chằng - cột cơ sau nhồi máu cơ tim, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, thấp tim, hoặc do lỗ van giãn rộng trong hội chứng Marfan, bệnh cơ tim giãn.

Hở van hai lá nhẹ

Nhĩ trái còn bù, hình ảnh X quang tim-phổi bình thường.

Do đó cũng như Hẹp van 2 lá, X quang tim-phổi bình thường không loại trừ được hở 2 lá.

Hở van hai lá nặng

Nhĩ trái mất bù, giãn to ra, áp lực trong buồng nhĩ tăng cao.

Nếu so sánh với Hẹp hai lá, thì Nhĩ trái to hơn nhiều, có khi vượt ra ngoài bờ của Nhĩ phải, cùng với thất trái to, tạo nên hình ảnh tim to toàn bộ.

Trên phim nghiêng hoặc chếch trước trái: Thất trái to che lấp khoảng sáng sau tim. Dấu hiệu Hoffman Rigler dương tính.

Quai động mạch chủ nhỏ do cung lượng tim giảm.

Cung động mạch phổi nỗi.

Tái phân phối tuần hoàn phổi.

Các đường Kerley ít gặp hơn và không rõ so với Hẹp van 2 lá.

Bệnh van hai lá  (hẹp và hở)

Hình ảnh X quang

Hẹp hoặc hở đơn thuần ít có mà thường phối hợp vơí nhau. Trên hình ảnh là sự tổng hợp các hình ảnh trên.

Bóng tim giãn cả 4 buồng. Sự giãn ra của tim do sự tác động của ứ trệ tuần hoàn phổi phối hợp rối loạn chức năng tim trái. Bóng tim hình tam giác mang những nét dặc thù của tim hai lá :

Nhỉ trái giãn to vượt qua bờ phải tạo nên hình ảnh lồi ở cung bên phải .  Ta cũng có  thấy được hình ảnh đôi bờ xuyên qua bóng mờ của tim .

Sự tăng áp của phổi và nhĩ trái cũng làm cho cung giữa trái nỗi rõ rệt .Ngoài ra cũng có các triệu chứng phối hợp như  :

Giãn nhĩ phải. Nhĩ trái giãn ra sau thấy được trên nhiều tư thế thẳng, nghiêng, chếch.

Mở rộng góc chia khí phế quản, phế quản trái bị đẩy nằm ngang .

Mờ ở vùng rốn hai bên do các huyết quản giãn to ra.

Hình mờ lớn nhỏ ở nhu mô phổi, đặc biệt ở hai đáy do ứ trệ tĩnh mạch và nhiễm hemosiderine. Mờ nốt lớn gọi là hình tủa bông   .       

Xuất hiện đường Kerley.

Các đường kính gia tăng.

Mất khoảng sáng trước tim.

Vôi hoá ở van 2 lá và thành nhĩ trái.

Sau khi mổ bóc tách van, áp lực ở động mạch phổi giảm đáng kể. Nhưng cung giữa trái thường không thay đổi mà chỉ thấy được nhịp đập.

Hình ảnh siêu âm

Hẹp van 2 lá: Thấy trực tiếp kích thước của lổ valve , xác định tính mềm mại của các van hay thâm nhiễm, sùi. Thấy nhĩ trái lớn hơn rõ, có thể thấy được cục máu đông ở trong buồng tim.

Hở van 2 lá đơn thuần: triệu chứng trực tiếp đáng tin cậy, có thể thấy được dây chằng (tổ chức dưới van) bị đứt, tăng động thất trái, tăng thể tích thất trái.

Hình ảnh hẹp hở van hai lá

Hình: Hình ảnh hẹp hở van hai lá.

Hẹp và hở van động mạch chủ

Cả hai trường hợp, thất trái đều phải gắng sức để đẩy máu nhanh ra động mạch chủ . Do đó dày và giãn thất trái là nét tiêu biểu của bệnh này .

Nhìn chung ta có thể thấy cung dưới trái nối rõ, có khi hình cung tròn, điểm G nâng cao. Mõm tim dưới cơ hoành .

Bờ phải không thay đổi ở giai đoạn mất bù thất trái giãn và đường kính mG tăng. Đường kính H tăng do mG tăng .

Tổn thương ở van động mạch chủ gây ra giãn cơ ở thất trái, do đó valve hai lá cũng bị ảnh hưởng, hậu quả làm tăng gánh tim phải .Vì vậy  ở giai đoạn muộn hình ảnh tim cũng mang tính chất hai lá .

Hở van động mạch chủ

Nguyên nhân thường gặp nhất là sau thấp tim. Các nguyên nhân khác bao gồm: Giang mai, Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, Hội chứng Marfan, Chấn thương, động mạch chủ bóc tách, Viêm khớp dạng thấp.

Sinh lý bệnh: Máu phụt ngược vào thất trái trong kỳ tâm trương, tăng thể tích, lưu lượng gây giãn buồng thất trái.Giãn vòng van 2 lá, hở van 2 lá cơ năng giãn buồng nhĩ trái.

Thất trái giãn hình tròn mõm tim dưới cơ hoành trên phim thẳng, trên phim nghiêng trái và chếch trước phải thấy chèn ép một phần ba dưới thực quản.

Chỉ số T/N > 0,6.

Động mạch phổi không to, có khi như lõm vào.

Động mạch chủ lên thường không giãn, nếu động mạch chủ lên giãn rõ,phải coi chừng có kết hợp với Hẹp van động mạch chủ. Quai động mạch chủ hầu như không thay đổi.

Siêu âm: Dấu hiệu gián tiếp đáng tin hơn là trực tiếp. Rung tâm trương của van hai lá giãn thất trái mà không dày thành , tăng động thất trái.

Hẹp động mạch chủ

Bình thường diện tích van động mạch chủ S = 2,5-3,5 cm2. Khi S < 0,7cm2 có triệu chứng lâm sàng.

Sinh lý bệnh: Hẹp van động mạch chủ tăng gánh trái dẫn đến dày đồng tâm Thất trái.

Bóng tim bình thường hoặc ta có thể thấy giãn doạn lên đmc, cung giữa phải xuất hiện ở trên phim thẳng.

Bờ trái tim có hình tròn do thất trái to đồng tâm. Có thể thấy hình vôi hóa của van động mạch chủ.

Cung dưới trái hình tròn do dày đồng tâm thất trái,chỉ số T/N # 0,55.

Động mạch chủ lên cong qua (P).

Siêu âm: Khẩu kính động mạch chủ tăng, van dày lên đóng mở chậm, vách thất trái dày, buồng thất trái giãn.

Vôi hoá ở van động mạch chủ (85% sau thấp tim).

Phối hợp:Hẹp van động mạch chủ +Hẹp van 2 lá.

Hở van động mạch chủ

Hình: Hở van động mạch chủ.

Hẹp van động mạch chủ

Hình: Hẹp van động mạch chủ.

Tổn thương van ba lá

Thuờng thứ phát, có thể là tổn thương hai lá, có thể rối loạn tuần hoàn phổi.

Nếu tổn thương ở hai lá hình ảnh phim  chủ yếu là bóng tim hai lá.

Mõm tim nâng cao do giãn thất phải.

Có khi thấy mạch đập kỳ tâm thu do tĩnh mạch chủ dãn ra.

Các danh mục

Sổ tay cập nhật chẩn đoán và điều trị bệnh lý

Triệu chứng học nội khoa

Triệu chứng học ngoại khoa

Bệnh học nội khoa

Bài giảng bệnh học nội khoa

Bệnh học ngoại khoa

Bệnh học nhi khoa

Bài giảng sản phụ khoa

Bài giảng truyền nhiễm

Bệnh học và điều trị đông y

Bài giảng tai mũi họng

Bài giảng răng hàm mặt

Bài giảng nhãn khoa

Bài giảng da liễu

Thực hành chẩn đoán và điều trị

Bệnh học nội thần kinh

Bệnh học lao

Đại cương về bệnh ung thư

Nội khoa miễn dịch dị ứng

Sách châm cứu học

Bài giảng sinh lý bệnh

Bài giảng miễn dịch

Bài giảng giải phẫu bệnh

Gây mê hồi sức

Sinh lý y học

Phôi thai học

Bài giảng dược lý lâm sàng

Chẩn đoán hình ảnh

Y pháp trong y học

Sách điện tâm đồ

Các bài thuốc đông y hiệu nghiệm

Sách siêu âm tim

Xét nghiệm sinh hóa trong lâm sàng

Tâm lý học và lâm sàng

Thực hành tim mạch

Cẩm nang điều trị

Thực hành chẩn đoán điện tâm đồ bệnh lý

Điều dưỡng học nội khoa

Phương pháp viết báo trong nghiên cứu y học

Hồi sức cấp cứu toàn tập

Điều dưỡng truyền nhiễm

Kỹ thuật điều dưỡng cơ bản

Giải phẫu cơ thể người

Bài giảng huyết học và truyền máu

Những kỹ năng lâm sàng

Bài giảng vi sinh y học

Bệnh nội khoa: hướng dẫn điều trị