Sự trưởng thành và thụ tinh của trứng: quyết đinh giới tính thai nhi

2020-06-03 10:52 PM

Sau khi phóng tinh dịch vào trong âm đạo trong quá trình giao hợp, một số tinh trùng sẽ di chuyển trong vòng 5 đến 10 phút theo hướng đi lên từ âm đạo đến tử và vòi tử cung, đến đoạn bóng của vòi tử cung.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Khi vẫn  còn ở trong buồng trứng, trứng vẫn ở trong giai đoạn noãn bào sơ cấp. Một thời gian ngắn trước khi nó được giải phóng từ các nang buồng trứng, hạt nhân sẽ giảm phân và hình thành thể cực đầu tiên. Noãn bào sơ cấp trở thành noãn bào thứ cấp. Trong quá trình này mỗi trong số 23 cặp nhiễm sắc thể mất đi đối tác của mình, v à 23 nhiễm sắc thể đơn không thể ghép cặp trong noãn bào thứ cấp. Sau đó ngay lập tức nó đi vào ống dẫn trứng.

Sự di chuyển của trứng vào vòi tử cung

Khi quá trình rụng trứng xảy ra, trứng sẽ được bao bọc bằng 1 lớp tế bào hạt, sau đó rời vào khoang phúc mạc và được bắt bởi tua vòi của vòi tử cung (là ống dẫn tr ứng từ buồng trứng vào trong lòng từ cung). Ở đầu tự do của vòi tử cung là tua vòi để bắt được trứng rơi ra từ buồng trứng. Bề mặt bên trong của vòi t ử cung được lót bằng biểu mô lông và lông mao được hoạt hoá bằng estrogen từ buồng trứng, điều này giúp cho trứng sẽ di chuyển một chiều từ buồng trừng vào tử cung.

Người ta cho rằng nhiều trứng không vào được vòi tử cung, (theo nghiên cứu 98% nằm trong trường  hợp này). Những phụ nữ bị cắt bỏ một buồng trứng và cắt bỏ ống dẫn trứng ngược lại đã có một vài đứa trẻ dễ thụ thai tương đối, do đó chứng minh rằng thậm chí có thể đi vào ống dẫn trứng đối diện.

Sự thụ tinh của trứng

Sau khi nam giới phóng tinh dịch vào trong âm đạo trong quá trình giao hợp, một số tinh trùng sẽ di chuyển trong vòng 5 đến 10 phút theo hướng đi lên từ âm đạo đến tử và vòi tử cung, đến đoạn bóng của vòi tử cung (ở gần cuối, gần với đoạn loa vòi). Quá trình di chuyển của tinh trùng được hỗ trợ bởi sự co bóp của tử cung và vòi tử được kích thích bởi prostaglandin và oxytocin được giải phóng từ tuyến yên sau của người nữ trong suốt cơn cực khoái. Hơn nửa của khoảng 1 tỉ tinh trùng sẽ được giữ lại ở âm đạo, một số lượng ít khoảng 1 nghìn tinh trùng sẽ đi vào sâu hơn.

Sự thụ tinh

Hình. Sự thụ tinh. A, TRứng chin B, Phân tán màng trong C, Tinh trùng xâm nhập. D, Kết hợp tiền nhân đực và tiền nhân cái. E, Tổ chức lại bộ nhiễm sắc thể.

Sự thụ tinh thường xảy ra ở đoạn bóng của vòi tử cung, nơi mà trứng và tinh trùng gặp nhau. Trước khi tinh trùng vào được trong trứng, nó phải vượt qua nhiều lớp tế bào granulose (gắn ở phía ngoài của trứng) sau đó thâm nhập vào màng trong suốt bao quanh trứng.

Một tinh trùng sẽ vào trong trứng (lúc này là noãn bào cấp 2. Noãn bào giảm phân 2, tạo trứng trưởng thành mang bộ nhiễm sắc thể đơn (23 nhiễm sắc thể), trong đó có nhiễm sắc thể nữ gọi là nhiễm sắc thể X.

Trong khi đó, tinh trùng thụ tinh cũng thay đổi, khi vào trứng, đầu tinh trùng phồng lên  tạo tiền nhân đực với bộ nhiễm sắc thể đơn (hình D), sẽ kết hợp với 23 nhiễm sắc thể đơn ủa trứng tạo thành tế bào đầy đủ có 26 nhiễm sắc thể gọi là hơp tử  (hình E).

Quyết định giới tính của thai nhi

Sau khi tinh trùng hình thành, một nửa sẽ mang nhiễm sắc thể X (nhiễm sắc thể nữ), một nửa sẽ mang nhiễm sắc thể Y (nhiễm sắc thể nam).

Do đó, nếu một nhiễm sắc thể X  từ tinh trùng kết hợp với một nhiễm sắc thể X từ noãn, tạo ra hợp tử XX, trẻ  gái sẽ ra đời. Nếu một nhiễm sắc thể Y từ tinh trùng kết hợp với một nhiễm sắc thể X từ noãn, tạo ra hợp tử XY, trẻ trai sẽ ra đời.

Bài viết cùng chuyên mục

Thùy trước và thùy sau tuyến yên

Hai thùy tuyến yên có nguồn gốc khác nhau, thùy trước từ túi Rathke, là một vùng lõm vào của lớp thượng bì hầu họng, và thùy sau từ một mô thần kinh phát triển ra từ vùng dưới đồi.

Các yếu tố điều chỉnh lượng thực phẩm ăn vào cơ thể

Sự điều chỉnh lượng thức ăn ăn vào có thể được chia thành điều chỉnh ngắn hạn, nó quan tâm chủ yếu tới việc hạn chế lượng thức ăn trong một bữa, và điều chỉnh dài hạn, kiểm soát chủ yếu là duy trì số lượng bình thường dự trữ năng lượng trong cơ thể.

Hệ tuần hoàn: đặc tính sinh lý

Chức năng của động mạch là chuyển máu dưới áp lực đến mô. Để đảm bảo chức năng này, động mạch có thành dày, và máu di chuyển với tốc độ cao trong lòng động mạch.

Cảm giác tư thế: cảm giác cảm thụ bản thể

Sự nhận thức về tư thế, gồm cả động và tĩnh, phụ thuộc vào nhận biết về mức độ gập góc của tất cả các khớp trong các mặt phẳng và sự thay đổi tốc độ của chúng.

Chức năng của testosterone

Testosterone được tiết ra đầu tiên ở các tế bào mầm rãnh sinh dục và sau đó là tinh hoàn của thai nhi chịu trách nhiệm trong sự phát triển các đặc điểm cơ thể nam giới, bao gồm cả sự hình thành dương vật và bìu chứ không phải là âm vật và âm đạo.

Đo thể tích hô hấp: ghi lại những thay đổi trong phép đo thể tích phổi

Thay đổi của thể tích phổi dưới tình trạng thở khác nhau. Mô tả sự kiện thông khí phổi, không khí trong phổi có thể được chia thành 4 thể tích và 4 dung tích  trung bình cho người lớn trẻ.

Ức chế đối kháng: cung phản xạ đồi kháng

Phản xạ gấp mạnh hơn này gửi các thông tin ức chế đến chi ban đầu và làm giảm độ co cơ ở chi này, nếu ta loại bỏ kích thích ở chi gấp mạnh hơn, chi ban đầu lại trở về co cơ với cường độ như ban đầu.

Adenosine Triphosphate là đơn vị tiền tệ năng lượng của cơ thể

Adenosine triphosphate móc xích cần thiết giữa chức năng sử dụng và sản xuất năng lượng của cơ thể. Vì lý do này, ATP được gọi là đơn vị tiền tệ năng lượng của cơ thể.

Hệ thần kinh trung ương: mức tủy sống mức dưới vỏ và mức vỏ não

Hệ thống thần kinh của con người được thừa hưởng những khả năng đặc biệt sau mỗi giai đoạn tiến hóa. Từ sự thừa hưởng này, 3 mức chính của hệ thần kinh trung ương có đặc điểm chức năng cụ thể là: (1) mức tủy sống; (2) mức dưới vỏ; và (3) mức vỏ não.

Tín hiệu thần kinh: sự hội tụ của các tín hiệu từ các sợi đến khác nhau

Sự hội tụ cho phép tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, và đáp ứng đưa đến là một hiệu quả được tổng hợp từ tất cả các loại thông tin khác nhau.

Giải phẫu sinh lý của bài tiết dịch mật

Thành phần của dịch mật ban đầu khi được bài tiết bởi gan và sau khi được cô đặc trong túi mật. Phần lớn chất được bài tiết bên trong dịch mật là muối mật, chiếm khoảng một nửa trong tổng số các chất được hòa tan trong dịch mật.

Ba nguồn năng lượng cho sự co cơ

Nguồn thứ nhất của năng lượng mà được sử dụng để tái lập ATP là chất phosphocreatine, cái mà mang một liên kết phosphate cao năng tương tự như liên kết của ATP.

Cấu trúc hóa học và sự tổng hợp insulin

Khi insulin được bài tiết vào máu, nó hầu như lưu thông ở dạng tự do. Bởi vì nó có thời gian bán hủy trung bình chỉ khoảng 6 phút nên phần lớn chúng bị loại bỏ khỏi tuần hoàn.

Cấu trúc tế bào cơ thể người

Hầu hết bào quan của tế bào được che phủ bởi màng bao gồm lipid và protein. Những màng này gồm màng tế bào, màng nhân, màng lưới nội sinh chất, màng ti thể, lysosome,và bộ máy golgi.

Vai trò của insulin trong chuyển đổi carbohydrate và chuyển hóa lipid

Khi nồng độ glucose máu cao, insulin được kích thích bài tiết và carbohydrate được sử dụng thay thế chất béo. Glucose dư thừa trong máu được dự trữ dưới dạng glycogen và chất béo ở gan, glycogen ở cơ.

Kiểm soát mức độ chính xác của co cơ: sự điều hòa ngược của hệ thống cảm giác thân thể tới vỏ não vận động

Tủy sống có thể gây ra các chương trình phản xạ vận động cụ thể có tính cố định. Nhiều những chương trình như vậy cũng có vai trò quan trọng khi các neuron vận động ở sừng trước của tủy sống bị kích thích.

Synap thần kinh trung ương: synap hóa và synap điện

Sự dẫn truyền tín hiệu tại ở loại synap hóa học chỉ theo 1 chiều, từ sợi thần kinh tiết ra chất dẫn truyền (được gọi là sợi trước synap) đến sợi sau nó (được gọi là sợi sau synap).

Điều hòa bài tiết hormone chống bài niệu (ADH)

Khi dịch ngoại bào trở nên quá ưu trương, do áp suất thẩm thấu nên dịch sẽ đi ra ngoài các tế bào receptor thẩm thấu, làm giảm kích thước tế bào và phát ra các tín hiệu lên vùng dưới đồi để tăng bài tiết ADH.

Khuếch tán khí qua màng hô hấp: các yếu tố ảnh hưởng

Hệ số khuếch tán khí phụ thuộc vào khả năng hòa tan của khí trong màng tế bào, và hệ số này tỷ lệ nghịch với trọng lượng phân tử. Tỷ lệ khuếch tán khí trong màng hô hấp là gần như chính xác tương tự như trong nước.

Tế bào: đơn vị cấu trúc và chức năng của cơ thể

Tế bào chỉ có thể sống, phát triển và thực hiện các chức năng của nó trong môi trường tập trung của oxygen, glucose, các ion, amino acid, chất béo và các chất cần thiết khác trong một môi trường.

Nguồn gốc của điện thế màng tế bào nghỉ

Sự khuếch tán đơn thuần kali và natri sẽ tạo ra điện thế màng khoảng -86mV, nó được tạo thành hầu hết bởi sự khuếch tán kali.

Ảnh hưởng của ion kali và canxi trong hoạt động của tim

Khi có nồng độ cao kali trong dịch ngoại bào sẽ một phần khử cực màng tế bào, làm điện thế màng bớt âm. Khi điện thế màng giảm, cường độ điện thế hoạt đọng cũng giảm, làm cho sự co bóp cơ tim yếu dần.

Các chức năng sinh lý của gan

Gan tổng hợp acid béo từ glucid, protid và từ các sản phẩm thoái hóa của lipid, acid béo được chuyển hóa theo chu trình.

Điện thế nghỉ của sợi thần kinh

Đặc điểm chức năng của bơm Na +-K + và của các kênh rò rỉ K +. ADP, adenosine diphosphate; ATP, adenosine triphosphate.

Phospholipids và Cholesterol trong cơ thể

Phospholipid được chi phối bởi yếu tố điều hòa kiểm soát tổng thể quá trình chuyển hóa chất béo. Cholesterol có ở trong khẩu phần ăn bình thường và nó có thể được hấp thu chậm từ hệ thống ruột vào các bạch huyết ruột