Lưu lượng của dòng bạch huyết của cơ thể

2020-08-12 03:58 PM

Bơm bạch huyết làm tăng dòng chảy bạch huyết. Van tồn tại trong tất cả các kênh bạch huyết. Van điển hình trong việc thu thập bạch huyết vào các mao mạch bạch huyết trống.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Hệ thống bạch huyết đại diện cho một con đường phụ mà qua đó chất lỏng có thể chảy từ khoảng kẽ vào máu.

Quan trọng nhất, các mạch bạch huyết có thể mang theo các protein và các phân tử lớn đi từ khoảng kẽ mà không thể được gỡ bỏ bằng cách hấp thụ trực tiếp vào các mao mạch máu. Sự hấp thu trở lại này của protein máu từ các khoảng kẽ là một chức năng quan trọng mà nếu không có, chúng ta sẽ chết trong vòng khoảng 24h.

Mỗi giờ, khoảng 100 ml bạch huyết chảy qua ống ngực ở một con người trong trạng thái nghỉ ngơi, và thêm khoảng 20 ml mỗi giờ chảy vào tuần hoàn thông qua các kênh khác, đưa tổng số ước tính dòng chảy bạch huyết của khoảng 120 ml / giờ hoặc 2-3 lít mỗi ngày.

Mối tương quan giữa áp suất dịch kẽ và dòng chảy bạch huyết

Hình. Mối tương quan giữa áp suất dịch kẽ và dòng chảy bạch huyết

Ảnh hưởng của áp lực dịch kẽ lên dòng bạch huyết. Ảnh hưởng của áp lực dịch kẽ khác nhau lên dòng bạch huyết đo được ở động vật. Lưu ý rằng, bình thường, dòng chảy bạch huyết là hầu như không có ở áp lực dịch kẽ âm hơn -6mmHg.

Sau đó, khi áp lực tăng lên tới 0mmHg (áp suất khí quyển) lưu lượng dòng chảy tăng lên hơn 20 lần. Do đó, bất kỳ yếu tố nào làm tăng áp lực dịch kẽ cũng làm tăng lưu lượng dòng chảy bạch huyết, nếu các mạch bạch huyết đang hoạt động bình thường. Những yếu tố này bao gồm:

Áp suất thủy tĩnh mao mạch cao.

Áp suất thẩm thấu keo huyết tương giảm.

Áp suất thẩm thấu keo dịch kẽ tăng.

Tính thấm của các mao mạch tăng.

Tất cả những yếu tố này gây ra một cân bằng trao đổi dịch ở màng mao mạch để đẩy dịch vào khoảng kẽ, do đó tăng thể tích dịch kẽ, áp lực dịch kẽ, và dòng chảy bạch huyết ở cùng một lúc.

Tuy nhiên, lưu ý khi áp suất dịch kẽ đạt được 1 hoặc 2 mmHg, lớn hơn áp suất khí quyển (>0 mmHg), dòng chảy bạch huyết không tăng thêm nữa ở bất kì áp suất cao nào.

Thực tế, kết quả này cho thấy áp suất ở mô ngày càng tăng không chỉ làm tăng đẩy dịch vào các mao mạch bạch huyết mà còn nén bề mặt bên ngoài của mạch bạch huyết lớn, do đó cản trở dòng chảy bạch huyết. Ở áp suất cao hơn, hai yếu tố này gần như cân bằng nhau, vì vậy dòng chảy bạch huyết đạt đến một tốc độ dòng chảy tối đa. Tốc độ dòng chảy tối đa này được minh họa bởi phần trên cao nguyên.

Bơm bạch huyết làm tăng dòng chảy bạch huyết. Van tồn tại trong tất cả các kênh bạch huyết. Van điển hình trong việc thu thập bạch huyết vào các mao mạch bạch huyết trống.

Hình ảnh chuyển động của các mạch bạch huyết được chỉ ra ở động vật và ở người cho thấy rằng khi một mạch bạch huyết thu thập dịch, các cơ trơn trong thành mạch bạch huyết tự động co lại. Hơn nữa, mỗi phân đoạn của mạch bạch huyết giữa các van chức năng như một máy bơm tự động riêng biệt. Đầy nhẹ một đoạn làm cho nó nhỏ lại, và dịch được bơm qua van tiếp theo vào đoạn bạch huyết tiếp theo.

Dịch này đổ đầy các đoạn sau trong một vài giây sau đó, quá trình tiếp tục dọc theo mạch bạch huyết cho đến khi dịch cuối cùng được đổ vào tuần hoàn chung. Trong một mạch bạch huyết rất lớn như ống ngực, bơm bạch huyết này có thể tạo ra áp lực lớn tới 50 đến 100 mmHg.

Bơm được tạo ra bởi sự co bóp ngắt quãng bên ngoài hệ bạch huyết. Ngoài việc bơm gây ra bởi sự co bóp ngắt quãng nội tại của thành mạch bạch huyết, bất kỳ yếu tố bên ngoài nào ép vào mạch bạch huyết không liên tục cũng có thể tạo ra bơm. Theo thứ tự quan trọng của chúng, các yếu tố như là như sau:

Sự co bóp của cơ xung quanh các xương.

Sự chuyển động của các bộ phận của cơ thể.

Nhịp đập của động mạch tiếp giáp với các mạch bạch huyết.

Áp lực của các mô bên ngoài cơ thể.

Các bơm bạch huyết hoạt động mạnh hơn khi lao động, thường gia tăng dòng chảy bạch huyết từ 10 đến 30 lần.

Ngược lại, trong thời gian nghỉ ngơi, dòng chảy bạch huyết là rất chậm (gần như bằng không).

Bơm mao mạch bạch huyết. Đầu tận cùng các mao mạch bạch huyết cũng có khả năng bơm bạch huyết, ngoài việc bơm bởi các mạch bạch huyết lớn hơn. Như đã giải thích ở chương trước, các thành của các mao mạch bạch huyết dính chặt vào các tế bào mô xung quanh bằng các phương tiện giữ chúng. Vì vậy, mỗi khi dịch dư thừa chảy vào các mô và làm cho các mô bị sưng lên, các sợi kéo trên thành của các mao mạch bạch huyết và dịch chảy vào các đầu mao mạch bạch huyết thông qua khe kẽ của các tế bào nội mô. Sau đó, khi mô bị nén, áp lực bên trong mao mạch tăng và gây ra sự chồng chéo của các tế bào nội mạc để đóng lại như van. Do đó, áp lực đẩy bạch huyết về phía trước vào bạch huyết thay vì quay ngược ra sau qua các khe giữa các tế bào nội mô.

Các tế bào nội mô mao mạch bạch huyết cũng có một vài sợi co actomyosin.

Cấu trúc của mao mạch bạch huyết

Hình. Cấu trúc của mao mạch bạch huyết và một ống thu bạch huyết với các valve bạch huyết.

Các tế bào nội mô mao mạch bạch huyết cũng có một vài sợi co actomyosin. Trong một số mô động vật (ví dụ, cánh của dơi), đã quan sát được nguyên nhân gây sự co bóp nhịp nhàng trên là do sự kết hợp của rất nhiều mao mạch nhỏ và các mạch bạch huyết lớn. Vì vậy, co lẽ phần thêm vào của bơm bạch huyết ít nhất là kết quả của sự kết hợp giữa các tế bào nội mô và các cơ lớn hơn của hệ bạch huyết.

Tóm tắt các yếu tố tạo ra dòng chảy bạch huyết:

Từ những thảo luận trước, có thể thấy rằng 2 yếu tố chính gây ra dòng chảy bạch huyết: (1) áp suất dịch kẽ, (2) hoạt động của bơm bạch huyết. Do đó, người ta co thể nói rằng, tốc độ dòng chảy bạch huyết gần như được xác định bởi áp suất dịch kẽ cùng với các hoạt động của bơm bạch huyết.

Bài viết cùng chuyên mục

Tiêu hóa Protein khi ăn

Đặc tính của mỗi protein được xác định bởi các loại amino acid trong phân tử protein và bởi trình tự của những amino acid.

Hàng rào máu dịch não tủy và hàng rào máu não

Hàng rào tồn tại ở cả đám rối mạch mạc và ở quanh mao mạch não tại hầu hết các vùng nhu mô não ngoại trừ một số vùng như vùng dưới đồi, tuyến tùng và vùng postrema, nơi các chất khuếch tán dễ dàng vào mô não.

Lượng sợi actin và myosin chồng lên nhau quyết định tăng lực co bóp khi co cơ

Toàn bộ cơ có một lượng lớn của mô liên kết ở trong nó; ngoài ra, các đơn vị co cơ trong các phần khác nhau của cơ không phải luôn luôn co bóp với cùng số lượng.

Các kích thích: sự nhận định cường độ

Nguyên lý Weber-Fechner chỉ chính xác về số lượng cho những cường độ cao hơn của những thí nghiệm cảm giác về thị giác, thính giác và da và kém phù hợp với đa số các loại thí nghiệm cảm giác khác.

Điều khiển của gen trong cơ thể người

Một số các protein trong tế bào là protein cấu trúc, nó kết hợp với những phân tử lipid khác và carbohydrate. Tuy nhiên, phần lớn các protein là enzyme xúc tác các phản ứng hóa học khác nhau trong tế bào.

Dịch não tủy và chức năng đệm của nó

Chức năng chính của dịch não tủy là lót đệm cho não trong hộp sọ cứng. Não và dịch não tủy có cùng trọng trượng riêng (chỉ khác biệt 4%), do đo não nổi trong dịch não tủy.

Cấu tạo và chức năng các thành phần của răng

Cấu trúc tinh thể của muối làm cho men răng vô cùng cứng, cứng hơn nhiều so với ngà răng. Ngoài ra, lưới protein đặc biệt, mặc dù chỉ chiếm khoảng 1 phần trăm khối lượng men răng, nhưng làm cho răng có thể kháng axit, enzym.

Kiểm soát sự tiết PTH thông qua nồng độ ion canxi

Giảm nồng độ ion canxi dịch ngoại bào ức chế con đường này,và kích thích bài tiết PTH quá trình này trái ngược với nhiều mô nội tiết, trong đó tiết hormone được kích thích khi những con đường được kích hoạt.

Chức năng của vỏ Limbic

Kích thích vùng khác nhau của vỏ Limbic sẽ gợi ra chức năng thực sự của mỗi vùng. Tuy nhiên, nhiều hành vi có thể được suy ra do kích thích một số vùng đặc biệt của vỏ Limbic.

Vận chuyển Glucose trong cơ thể qua màng tế bào

Glucose có thể được vận chuyển từ một phía của màng tế bào sang phía bên kia, sau đó được giải phóng, glucose sẽ được vận chuyển từ nơi có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp hơn là theo chiều ngược lại.

Đường cong hoạt động của tâm thất

Khi tâm thất được làm đầy đáp ứng với sự tăng cao áp suất tâm nhĩ, mỗi thể tích tâm thất và sức co cơ tim tăng lên, làm cho tim tăng bơm máu vào động mạch.

Hấp thu và bài tiết của canxi và phosphate

Thông thường ống thận hấp thu khoảng 99% lượng canxi, và khoảng 100mg/ngày tiết ra trong nước tiểu. khoảng 90 % canxi trong nước tiểu đầu được tái hấp thu ở ống lượn gần,quai henle, một phần đầu của ống lượn xa.

Sự hình thành thủy dịch từ thể mi của mắt

Thủy dịch luôn được tiết ra và tái hấp thu. Sự cân bằng giữa sự tiết ra và sự hấp thu quyết định thể tích của thủy dịch và áp suất nội nhãn cầu.

Sinh lý nội tiết tuyến thượng thận

Tuyến thượng thận gồm hai tuyến nhỏ úp trên hai thận, mỗi tuyến nặng khoảng 4g. Tuyến thượng thận gồm 2 phần riêng biệt : phần vỏ (80%) và phần tuỷ (20%). Chức năng tuỷ thượng thận, liên quan đến hoạt động hệ giao cảm.

Tác dụng của cortisol lên chuyển hóa carbohydrate

Tác dụng chuyển hóa của cortisol và glucocorticoid khác được biết nhiều nhất là tác dụng kích thích tạo đường mới tại gan, mức tăng tạo đường mới dưới tác dụng của cortisol có thể tăng từ 6 đến 10 lần.

Hoạt động nhu động đẩy đi của đường tiêu hóa

Nhu động là một đặc tính cố hữu của nhiều ống cơ trơn hợp bào; kích thích tại bất cứ điểm nào tại ruột có thể tạo một vòng co cơ ở lớp cơ vòng sau đó di chuyển dọc theo ống ruột.

Canxi ở huyết tương và dịch nội bào

Nồng độ canxi trong huyết tương chỉ chiếm khoảng 1 nửa tổng. Canxi dạng ion tham gia vào nhiều chức năng ,bao gồm tác dụng của canxi lên tim, hệt thần kinh, sự tạo xương.

Đồi thị: chức năng thị giác của nhân gối bên sau

Chức năng chính của nhân gối bên sau là “cổng” dẫn truyền tín hiệu tới vỏ não thị giác, tức là để kiểm soát xem có bao nhiêu tín hiệu được phép đi tới vỏ não.

Dịch ngoại bào: môi trường trong cơ thể

Dịch ngoại bào và máu luôn có quá trình trao đổi qua lại với nhau nhờ quá trình khuếch tán dịch và chất tan qua thành các mao mạch, dịch ngoại bào chứa các ion và các chất dinh dưỡng và là môi trường.

Vận chuyển và lưu trữ Amino Acids trong cơ thể

Sản phẩm của quá trình tiêu hóa protein và hấp thụ trong đường tiêu hóa gần như hoàn toàn là các amino acid; hiếm khi là các polypeptid hoặc toàn bộ phân tử protein được hấp thu quá hệ tiêu hóa vào máu.

Sinh lý hoạt động trí nhớ

Trí nhớ là khả năng lưu giữ thông tin về môi trường ngoài tác dụng lên cơ thể. Nơi lưu giữ thông tin, chủ yếu là những cấu trúc của não, có tác giả cho rằng ở cả phần dưới cuả hệ thần kinh.

Chức năng tuyến tiền liệt

Thể dịch tuyến tiền liệt có tính kiềm nhẹ giúp trung hòa bớt tính acid của các dịch khác khi xuất tinh, do đó tăng khả năng vận động và khả năng thụ tinh của tinh trùng.

Dinh dưỡng cho phôi

Khi các tế bào lá nuôi phôi tràn vào màng rụng, tiêu hoá và hấp thu nó, các chất dinh dưỡng được lưu trữ trong màng rụng được phôi sử dụng cho sự sinh trưởng và phát triển.

Đo thể tích hô hấp: ghi lại những thay đổi trong phép đo thể tích phổi

Thay đổi của thể tích phổi dưới tình trạng thở khác nhau. Mô tả sự kiện thông khí phổi, không khí trong phổi có thể được chia thành 4 thể tích và 4 dung tích  trung bình cho người lớn trẻ.

Vùng vận động sơ cấp: chức năng vận động của vỏ não và thân não

Vỏ não vận động được chia làm 3 vùng nhỏ, mỗi vùng lại có bản đồ hình chiếu riêng cho các nhóm cơ và có những chức năng riêng biệt: vùng vận động sơ cấp, vùng tiền vận động, vùng vận động bổ sung.