- Trang chủ
- Sách y học
- Sinh lý y học
- Bất thường răng
Bất thường răng
Sâu răng là kết quả hoạt động của các vi khuẩn trên răng, phổ biến nhất là vi khuẩn Streptococcus mutans. Lệch khớp cắn thường được gây ra bởi sự bất thường di truyền một hàm khiến chúng phát triển ở các vị trí bất thường.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Hai bất thường nha khoa thường gặp nhất là sâu răng và lệch khớp cắn (malocclusion). Sâu răng đề cập đến sự xói mòn của răng, trong khi lệch khớp cắn (malocclusion) thất bại do các răng trên và dưới không vừa nhau
Sâu răng, vai trò của vi khuẩn và thức ăn carbohydrates
Sâu răng là kết quả hoạt động của các vi khuẩn trên răng, phổ biến nhất là vi khuẩn Streptococcus mutans. Đầu tiên là sự lắng đọng các mảng bám, là một màng tạo ra bởi sự kết tủa của nước bọt và thức ăn, trên răng. Một số lượng lớn các vi khuẩn sống trong mảng này và chuẩn bị để gây sâu răng. Vi khuẩn phụ thuộc phần lớn vào lượng carbohydrate để nuôi sống mình. Khi có sẵn carbohydrates, các hoạt động trao đổi chất của chúng được kích hoạt mạnh mẽ và sinh sản mạnh. Ngoài ra, chúng tạo thành axit (đặc biệt là axit lactic) và các enzym phân giải protein. Acid là thủ phạm chính trong việc gây ra sâu răng vì các muối canxi của răng hòa tan dần trong môi trường axit cao. Một khi đã trở thành muối bị hấp thu, phần chất căn bản còn lại được tiêu hóa nhanh chóng bởi các enzym phân giải protein.
Men răng là hàng rào chính cho sự phát triển của sâu răng. Men răng có khả năng kháng axit hơn là ngà răng, chủ yếu là do các tinh thể men dày đặc, nhưng cũng do mỗi tinh thể men có kích thước gấp 200 lần so với mỗi tinh thể ngà. Một khi quá trình tiêu hủy đã thâm nhập qua lớp men để vào ngà răng,nó sẽ diễn ra nhanh chóng do tính tan của muối ngà cao
Do sự phụ thuộc vào carbohydrates của các vi khuẩn sâu răng để nuôi sống nó, Nên một chế độ ăn hàm lượng carbohydrate sẽ dẫn đến phát triển quá mức của sâu răng. Tuy nhiên, đó không phải là số lượng carbohydrate ăn vào mà tần số nó được ăn đó mới là quan trọng. Nếu carbohydrate được ăn tah nhỏ trong ngày thành nhiều bữa nhỏ chẳng hạn như bánh kẹo, các vi khuẩn được cung cấp dinh dưỡng trong nhiều giờ trong ngày do đó sự phát triển của sâu răng được tăng lên rất nhiều.
Vai trò của flo và sâu răng
Răng của trẻ uống nước có chứa một lượng nhỏ flo có men răng chắc khỏe hơn so với trẻ không được uống. Flo không làm cho men răng cứng hơn bình thường, nhưng các ion flo thay thế nhiều các ion hydroxyl trong các tinh thể hydroxyapatite, do đó làm cho tính kháng của men răng tăng gấp nhiều lần. Flo cũng có thể gây độc đối với vi khuẩn. Cuối cùng, khi lỗ sâu nhỏ phát triển trong men, flo được cho là để thúc đẩy sự lắng đọng canxi phosphat để “chữa lành” bề mặt men răng. Bất kể cơ chế nào mà flo bảo vệ răng, nhưng thực tế đã được biết rằng một lượng nhỏ flo bổ sung vào men răng làm khả năng chống sâu răng tăng gấp 3 lần như răng không có.
Lệch khớp cắn
Lệch khớp cắn (Malocclusion) thường được gây ra bởi sự bất thường di truyền một hàm khiến chúng phát triển ở các vị trí bất thường.
Trong lệch khớp cắn, các răng không khít đúng và do đó chức năng nghiền hoặc cắt bình thường của răng không được đảm bảo. Lệch khớp cắn thỉnh thoảng cũng do vị trí bất thường của hàm dưới liên quan đến hàm trên, gây ra các triệu chứng đau ở khớp cắn, hư hỏng răng.
Nha sĩ có thể chỉnh lệch khớp cắn đúng bằng cách dùng áp lực nhẹ nhàng kéo dài kéo lại các răng bằng niềng răng thích hợp.Áp lực nhẹ nhàng gây ra sự hấp thụ của xương huyệt răng ở phía nén của răng và lắng đọng của xương mới ở phía bên căng của răng.
Bằng cách này, các răng dần dần di chuyển đến một vị trí mới theo áp suất.
Bài viết cùng chuyên mục
Block nút nhĩ thất: chặn đường truyền tín hiệu điện tim
Thiếu máu nút nhĩ thất hoặc bó His thường gây chậm hoặc block hẳn dẫn truyền từ nhĩ đến thất. Thiếu máu mạch vành có thể gây ra thiếu máu cho nút nhĩ thất và bó His giống với cơ chế gây thiếu máu cơ tim.
Vỏ não thị giác: nguồn gốc và chức năng
Vỏ não thị giác nằm chủ yếu trên vùng trung tâm của thùy chẩm. Giống như các vùng chi phối khác trên vỏ não của các hệ thống giác quan khác, vỏ não thị giác được chia thành một vỏ não thị giác sơ cấp và các vùng vỏ não thị giác thứ cấp.
Cân bằng dinh dưỡng trong cơ thể
Ngay lập tức sau một bữa ăn gồm cả carbohydrates, protein và chất béo, phần lớn thức ăn được chuyển hóa là carbohydrates, vì thế thương số hô hấp tại thời điểm đó tiệm cận một.
Kiểm soát lưu lượng mạch vành
Điều hòa lưu lượng máu. Lưu lượng máu trong động mạch vành thường được điều chỉnh gần như chính xác tương ứng với nhu cầu oxy của cơ tim.
Bài tiết chất nhầy ở đại tràng
Chất nhày ở đại tràng bảo vệ thành ruột chống lại sự xây xát, nhưng thêm vào đó, chúng là một chất kết dính giúp gắn kết các phần của phân lại với nhau.
Hệ thống Purkinje: vai trò gây ra co bóp đồng bộ của cơ tâm thất
Khi xung động đi đến tận cùng của các sợi Purkinje, nó được truyền qua khối cơ của tâm thất bởi chính các sợi cơ của tâm thất. Vận tốc dẫn truyền bây giờ chỉ 0,3 - 0,5m/s, bằng 1/6 trong các sợi Purkinje.
Adenosine Triphosphate: chất mang năng lượng trong chuyển hoá
Carbohydrat, chất béo, and protein đều được tế bảo sử dụng để sản xuất ra một lượng lớn adenosine triphosphate, là nguồn năng lượng chính cho mọi hoạt động của tế bào. Vì vậy, ATP được gọi là “chất mang năng lượng” trong chuyển hoá tế bào.
Các sợi thần kinh: dẫn truyền các loại tín hiệu khác nhau và phân loại
Các sợi thần kinh đến có kích thước trung bình vào khoảng 0.5 đến 20 micromet; kích thước lớn hơn, tốc độ dẫn truyền cũng lớn hơn. Giới hạn tốc độ dẫn truyền trong khoảng 0.5 đến 120 m/giây.
Các yếu tố điều chỉnh lượng thực phẩm ăn vào cơ thể
Sự điều chỉnh lượng thức ăn ăn vào có thể được chia thành điều chỉnh ngắn hạn, nó quan tâm chủ yếu tới việc hạn chế lượng thức ăn trong một bữa, và điều chỉnh dài hạn, kiểm soát chủ yếu là duy trì số lượng bình thường dự trữ năng lượng trong cơ thể.
Kiểm soát chức năng tình dục nam giới bằng các hormone vùng dưới đồi và thùy trước tuyến yên
LH và FSH là các glycoprotein. Chúng phát huy tác dụng của mình tại tuyến đích ở tinh hoàn bằng cách kích hoạt chất dẫn truyền tin thứ hai là cAMP, từ đó kích hoạt hệ thống enzyme đặc biệt tron tế bào đích tương ứng.
Hoạt động nhào trộn của đường tiêu hóa
Hoạt động nhào trộn có đặc điểm khác nhau ở những phần khác nhau của đường tiêu hóa. Ở một số đoạn, co bóp nhu động chủ yếu gây ra nhào trộn.
Lách: kho dự trữ hồng cầu
Trong mô lách, các mao mạch thì cho máu thấm qua, bao gồm các tế bào hồng cầu, máu rỉ ra từ các thành của mao mạch vào các mắt xích nằm ngang khớp nhau, tạo nên mô lách màu đỏ.
Trao đổi chất của cơ tim
ATP này lần lượt đóng vai trò như các băng tải năng lượng cho sự co cơ tim và các chức năng khác của tế bào. Trong thiếu máu mạch vành nặng, ATP làm giảm ADP, AMP và adenosine đầu tiên.
Cung lượng tm: sự điều chỉnh thông qua tuần hoàn tĩnh mạch - nguyên lý Frank - starling
Dưới điều kiện sinh lý bình thường, cung lượng tim được kiểm soát bằng các yếu tố ngoại biên, được xác định bởi tuần hoàn tĩnh mạch.
Các cơ chế giữ ổn định mắt của tiền đình và yếu tố khác
Mỗi thời điểm đầu bị quay đột ngột, những tín hiệu từ các ống bán khuyên khiến cho mắt quay theo một hướng cân bằng và đối diện với sự quay của đầu. Chuyển động đó có nguồn gốc từ các phản xạ từ nhân tiền đình và bó dọc giữa.
Cơ thể cân đối kéo dài cuộc sống với thể thao
Cải thiện cơ thể cân đối cũng làm giảm nguy cơ một vài loại bệnh ung thư như ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, và ung thư đại tràng. Phần lớn các tác dụng có lợi của tập luyện có thể liên quan đến việc giảm béo phì.
Hormone tăng trưởng (GH) điều khiển sự phát triển các mô cơ thể
Hormone tăng trưởng GH điều khiển làm tăng kích thước tế bào và tăng nguyên phân, cùng sự tăng sinh mạnh số lượng tế bào của các loại tế bào khác nhau như tạo cốt bào và các tế bào cơ còn non.
Điều hòa vận động: ứng dụng lâm sàng của phản xạ căng cơ
Trong thăm khám lâm sàng, chúng ta thường kiểm tra các phản xạ căng cơ nhằm mục đích xác định mức độ chi phối của não đến tủy sống. Các thăm khám này có thể thực hiện như sau.
Hoạt động chuyển hóa tế bào của Aldosterol
Aldosterol không có tác dụng vận chuyển natri ngay lập tức; đúng hơn tác dụng này phải chờ hình thành liên tục những chất đặc biệt cần thiết vận chuyển natri.
Phản xạ gấp và phản xạ rút lui khỏi vật kích thích
Các thông tin khởi phát phản xạ rút lui không được truyền trực tiếp vào neuron sừng trước tủy sống mà thay vào đó trước tiên được truyền vào các neuron liên hợp, rồi mới vào neuron vận động.
PO2 phế nang: phụ thuộc vào các độ cao khác nhau
Khi lên độ cao rất lớn, áp suất CO2 trong phế nang giảm xuống dưới 40 mmHg (mặt nước biển). Con người khi thích nghi với độ cao có thể tăng thông khí lên tới 5 lần, tăng nhịp thở gây giảm PCO2 xuống dưới 7 mmHg.
Cơn nhịp nhanh nhĩ: rối loạn nhịp tim
Nhanh nhĩ hay nhanh bộ nối (nút), cả hai đều được gọi là nhịp nhanh trên thất, thường xảy ra ở người trẻ, có thể ở người khỏe mạnh, và những người này thông thường có nguy cơ nhịp nhau sau tuổi vị thành niên.
Sự di chuyển của trứng đã thụ tinh trong ống dẫn trứng
Progesterone tăng tiết ra nhiều bởi hoàng thể buồng trứng đầu tiên thúc đẩy tăng thụ thể progesterone ở các tế bào cơ trơn ống dẫn trứng, sau đó progesterone kích thích các thụ thể, gây giãn ống cho phép trứng đi vào tử cung.
Miễn dịch ở trẻ sơ sinh
Trẻ sơ sinh hiếm khi bị dị ứng. Tuy nhiên, vài tháng sau đó, khi kháng thể của nó bắt đầu được hình thành, những trạng thái dị ứng nặng có thể tiến triển.
Điều khiển của gen trong cơ thể người
Một số các protein trong tế bào là protein cấu trúc, nó kết hợp với những phân tử lipid khác và carbohydrate. Tuy nhiên, phần lớn các protein là enzyme xúc tác các phản ứng hóa học khác nhau trong tế bào.
