Cơ chế kích thích cơ bản các tuyến tiêu hóa

2022-03-09 10:42 PM

Điều hòa sự bài tiết của các tuyến bằng các hormone. Tại dạ dày và ruột, một vài hormone tiêu hóa khác nhau giúp điều hòa thể tích và đặc tính của các dịch bài tiết.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Mối liên hệ giữa thức ăn với sự kích thích bài tiết của tế bào biểu mô - Hoạt động kích thích hệ thống thần kinh ruột

Sự xuất hiện của thức ăn ở những đoạn riêng biệt của đường tiêu hóa thường kích thích các tuyến của chính vùng đó và các vùng lân cận bài tiết ra một lượng trung bình đến nhiều dịch tiêu hóa. Một phần của tác động cục bộ này,đặc biệt là sự bài tiết của chất nhày bởi các tế bào tiết nhày, là kết quả của việc kích thích liên hệ trực tiếp của thức ăn tới các tế bào tuyến trên bề mặt.

Thêm vào đó, sự kích thích tế bào biểu mộ tại chỗ cũng kích hoạt hệ thống thần kinh ruột trên thành ruột. Các dạng yếu tố kích thích có khả năng kích hoạt hệ thống này bao gồm (1) kích hoạt xúc giác (2) sự kích thích hóa học (3) sự căng giãn của thành ruột. Kết quả của phản xạ thần kinh này sẽ kích thích cả những tế bào tiết nhày ở biểu mô ruột và những tuyến ở phía sâu trong thành ruột tăng tiết.

Sự kích thích hệ thần kinh đối giao cảm làm tự động tăng tốc độ bài tiết của các tuyến trong đường tiêu hóa

Sự kích thích của hệ thần kinh đối giao cảm với đường tiêu hóa hầu như lúc nào cũng làm tăng tốc độ bài tiết của các tuyến tiêu hóa. Sự tăng tốc độ bài tiết này đặc biệt đúng đối với các tuyến nằm ở phần trên của đường tiêu hóa (có sự phân bố của dây thần kinh lưỡi hầu và dây thần kinh phế vị) như tuyến nước bọt, tuyến thực quản, tuyến của dạ dày, tuyến tụy và tuyến Brunner của tá tràng. Nó cũng đúng với một vài tuyến ở phần xa của đại tràng, được phân bố các nhánh phó giao cảm của thần kinh chậu hông. Sự bài tiết ở phần còn lại của ruột non và 2/3 trên của đại tràng diễn ra chủ yếu do sự đáp ứng lại kích thích của các dây thần kinh tại chỗ và của hormone tại mỗi đoạn ruột.

Sự kích thích hệ giao cảm tự động tác động 2 mặt lên tốc độ bài tiết của các tuyến tiêu hóa

Sự kích thích của các dây thần kinh giao cảm tới đường tiêu hóa làm cho các tuyến tại chỗ tăng bài tiết dịch từ mức độ nhẹ đến trung bình. Tuy nhiên, sự kích thích giao cảm cũng có thể dẫn đến sự co các mạch cấp máu cho các tuyến. Do đó, kích thích giao cảm có tác động 2 mặt: (1) Kích thích đơn độc hệ giao cảm thường gây tăng nhẹ sự bài tiết và (2) nếu sự kích thích hệ phó giao cảm và kích thích của các hormone đã và đang gây ra sự bài tiết dồi dào các sản phẩm tiết, thì sự bổ sung thêm kích thích giao cảm lại thường làm giảm sự bài tiết, đôi khi điều này là rất cần thiết, chủ yếu là do sự co mạch làm giảm lượng máu cung cấp cho tuyến.

Điều hòa sự bài tiết của các tuyến bằng các hormone. Tại dạ dày và ruột, một vài hormone tiêu hóa khác nhau giúp điều hòa thể tích và đặc tính của các dịch bài tiết. Các hormone này được giải phóng từ niêm mạc của đường tiêu hóa khi đáp ứng với sự có mặt của thức ăn trong lòng ruột. Những hormone này sau đó được hấp thu vào trong máu và được mang tới các tuyến - nơi chúng gây ra tác động kích thích bài tiết. Dạng kích thích này đặc biệt có giá trị với việc sản xuất dịch vị và dịch tụy khi thức ăn vào trong dạ dày và tá tràng.

Về phương diện hóa học, các hormone tiêu hóa hoặc là các polypeptit hoặc có nguồn gốc từ polypeptit.

Bài viết cùng chuyên mục

Chức năng tuyến tiền liệt

Thể dịch tuyến tiền liệt có tính kiềm nhẹ giúp trung hòa bớt tính acid của các dịch khác khi xuất tinh, do đó tăng khả năng vận động và khả năng thụ tinh của tinh trùng.

Block nhĩ thất không hoàn toàn điện thế thay đổi: chặn đường truyền tín hiệu điện tim

Những nguyên nhân gây giảm dẫn truyền như thiếu máu cơ tim, viêm cơ tim, độc digitalis cũng có thể gây ra block thất không hoàn toàn biểu thị nên điện thế thay đổi.

Kênh cổng điện thế natri và kali

Khi các kênh kali mở, chúng vẫn mở cho toàn bộ thời gian điện thế màng hoạt động và không đóng lại cho đến khi điện thế màng được giảm trở lại một giá trị âm.

Kiểm soát lưu lượng máu mô bằng các yếu tố thư giãn hoặc co thắt có nguồn gốc từ nội mô

Điều quan trọng nhất của các yếu tố giãn mạch nội mô là NO, một khí ưa mỡ được giải phóng từ tế bào nội mô đáp ứng với rất nhiều kích thích hóa học và vật lý.

Sự bảo vệ cơ thể và tái sản xuất

Hệ miễn dịch có các vai trò phân biệt tế bào của cơ thể với tế bào và các chất lạ thường;  phá hủy chúng nhờ đại thực bào hoặc tạo ra các lympho bào và prôtein đặc hiệu hoặc làm vô hiệu hoá các kháng nguyên.

Đại cương sinh lý thần kinh cao cấp

Người và các loài động vật cao cấp có một số hành vi và thái độ đáp ứng với hoàn cảnh mà các quy luật sinh lý thông thường không giải thích được. Ở ngườiì khi vui thì ăn ngon miệng, khi buồn thì chán không muốn ăn, mặc dầu đói.

Hormone tăng trưởng (GH) gây các ảnh hưởng lên chuyển hóa

Hormone tăng trưởng GH tác động trên sự phát triển cơ thể, tác dụng trên phức hợp chuyển hóa, gồm tăng tạo protein, tăng huy động các acid béo từ mô mỡ, làm giảm sử dụng glucose toàn cơ thể.

Hệ thống cột tủy sau: giải phẫu dải cảm giác giữa

Các sợi thần kinh đi vào cột tủy sau tiếp tục không bị gián đoạn đi lên hành tủy sau, là nơi chúng tạo synap trong nhân cột sau. Từ đây, các nơ-ron cấp hai bắt chéo ngay sang bên đối diện của thân não và tiếp tục đi lên qua dải cảm giác giữa đến đồi thị.

Sự vận chuyển O2 trong máu và mô kẽ

Các loại khí có thể di chuyển từ nơi này đến nơi khác bằng cách khuếch tán và nguyên nhân của sự vận chuyển này là sự chênh lệch về phân áp từ vị trí đầu tiên cho tới vị trí tiếp theo.

Receptor: sự nhậy cảm khác nhau của các receptor

Mỗi loại cảm giác cơ bản mà chúng ta có thể biết được như đau, sờ, nhìn, âm thanh và nhiều loại khác được gọi là một phương thức cảm giác.

Các yếu tố ảnh hưởng đến mức năng lượng trong cơ thể

Lượng năng lượng cần để thực hiện hoạt động thể chất chiếm 25% tổng năng lượng tiêu thụ của cơ thể, thay đổi nhiều theo từng người, tuỳ thuộc vào loại và lượng hoạt động được thực hiện.

Thành phần dịch trong cơ thể người

Ở người trưởng thành, tổng lượng dịch trong cơ thể khoảng 42L, chiếm 60% trọng lượng. Tỉ lệ này còn phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính và thể trạng từng người.

Các van tim ngăn sự quay lại của dòng máu kỳ tâm thu

Đặc điểm giải phẫu của van động mạch chủ và van động mạch phổi phải được cấu tạo với một mô sợi đặc biệt mạnh mẽ nhưng cũng phải rất mềm dẻo để chịu đựng được thêm gánh nặng vật lý.

Nơi tích trữ chất béo trong cơ thể người

Các tế bào gan ngoài chứa triglycerides, còn chứa lượng lớn phospholipid và cholesterol, chúng liên tục được tổng hợp ở gan. Ngoài ra, các tế bào gan còn khử bão hòa các acid béo nhiều hơn ở các mô khác.

Phản xạ duỗi chéo: phối hợp vận động của các chi

Các tín hiệu thần kinh cảm giác vào tủy sống thì bắt chéo sang bên đối diện để kích thích duỗi cơ. Vì phản xạ duỗi chéo chỉ bắt đầu từ 200 - 500 ms sau khi kích thích đau xảy ra.

Tăng huyết áp: tăng thể tích dịch gây tăng cung lượng tim hoặc kháng lực ngoại vi

Bất cứ sự vượt quá lưu lượng máu chảy qua một mô, đều làm co mạch cục bộ và làm giảm lưu lượng máu về bình thường. Hiện tượng này được gọi là "tự điều hòa", điều đó có nghĩa đơn giản là sự điều hòa lưu lượng máu của chính mô đó.

Nút xoang tạo nhịp bình thường của tim: điều chỉnh kích thích và dẫn truyền

Nút xoang kiểm soát nhịp của tim bởi vì tốc độ phóng điện nhịp điệu của nó nhanh hơn bất kỳ phần nào khác của tim. Vì vậy, nút xoang gần như luôn luôn tạo nhịp bình thường của tim.

Sự thích nghi của áp suất ô xy máu thấp và ảnh hưởng cấp của giảm ô xy máu

Một trong ảnh hưởng quan trọng nhất của giảm oxy máu là giảm nhận thức, gây nên giảm tư duy, trí nhớ, và hiệu suất của các vận động phức tạp.

Đo huyết áp tâm thu và tâm trương trên lâm sàng

Có sự tăng nhẹ trong huyết áp tâm thu thường xảy ra sau tuổi 60. Sự tăng này nguyên nhân do giảm khả năng co giãn hay trở nên cứng hơn, chủ yếu nguyên nhân do xơ vữa.

Tự điều hòa lưu lượng máu não bảo vệ não trước sự dao động của huyết áp động mạch và vai trò hệ thần kinh giao cảm

Hệ tuần hoàn não nhận chi phổi giao cảm đi lên từ hạch giao cảm cổ trên ở vùng cổ, đi dọc theo các động mạch của não. Nó chi phối cả các động mạch lớn của não cũng như các động mạch xuyên sâu vào nhu mô não.

Sinh lý tuần hoàn địa phương (mạch vành, não, phổi)

Động mạch vành xuất phát từ động mạch chủ, ngay trên van bán nguyệt. Động mạch vành đến tim, chia thành động mạch vành phải và trái. Động mạch vành trái cung cấp máu cho vùng trước thất trái và nhĩ trái.

Cung lượng tim: nghiên cứu định lượng

Tăng khả năng bơm máu cùng với tăng áp suất khoang màng phổi làm cung lượng tim đạt đỉnh vì tăng hoạt động tim nhưng đường cong lại dịch sang phải vì áp suất khoang màng phổi tăng.

Điều hòa chức năng thực vật và nội tiết của vùng dưới đồi

Để minh họa cấu tạo của vùng dưới đồi cũng như đơn vị chức năng của vùng dưới đồi, chúng ta tổng hợp chức năng thực vật và nội tiết quan trọng ở đây.

Phản xạ tư thế: dáng đi ở tủy sống

Ở động vật có xương sống, khi cơ thể bị ngả về một bên thì sẽ xuất hiện các động tác không đồng vận để cố gắng giúp nó đứng thẳng dậy. Phản xạ này được gọi là phản xạ đứng dậy tuỷ sống.

Điều hòa bài tiết hormone chống bài niệu (ADH)

Khi dịch ngoại bào trở nên quá ưu trương, do áp suất thẩm thấu nên dịch sẽ đi ra ngoài các tế bào receptor thẩm thấu, làm giảm kích thước tế bào và phát ra các tín hiệu lên vùng dưới đồi để tăng bài tiết ADH.