Huyết áp và bệnh tăng huyết áp

2011-07-09 11:22 AM
Một yếu tố quan trọng trong tăng huyết áp, là lòng các động mạch nhỏ, và mao mạch thu hẹp lại, phần lớn không tìm được nguyên nhân tăng huyết áp.

Huyết áp

Vai trò của thận trong kiểm tra thể tích tuần hoàn

Vai trò của thận trong kiểm tra thể tích tuần hoàn:

Khi áp lực tưới máu cho thận bị giảm, sẽ có sự phân phối lại máu trong thận, kèm theo làm giảm áp lực mao mạch thận và hoạt tính giao cảm (thông qua receptor β) dẫn đến sản xuất renin từ đó tăng sản xuất angiotensin, gây ra:

Co mạch.

Kích thích sản xuất aldosteron làm giữ Na + và nước.

Bệnh tăng huyết áp

Tăng huyết áp thường được chia thành hai loại:

Tăng huyết áp thứ phát: khi huyết áp tăng chỉ là một triệu chứng của những tổn thương ở một cơ quan như: thận, nội tiết, tim mạch, não... Điều trị nguyên nhân, huyết áp sẽ trở lại bình thường.

Tăng huyết áp nguyên phát: khi nguyên nhân chưa rõ, lúc đó được gọi là bệnh tăng huyết áp.

Cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp rất phức tạp. Huyết áp phụ thuộc vào lưu lượng của tim và sức cản ngoại vi. Hai yếu tố này lại phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố khác, như hoạt động của hệ thần kinh trung ương và thần kinh thực vật, của vỏ và tuỷ thượng thận, của hormon chống bài niệu (ADH), của hệ renin - angiotensin - aldosteron, của tình trạng cơ tim, tình trạng thành mao mạch, khối lượng máu, thăng bằng muối và thể dịch v.v...

Một yếu tố quan trọng trong tăng huyết áp là lòng các động mạch nhỏ và mao mạch thu hẹp lại. Phần lớn không tìm được nguyên nhân tiên phát của tăng huyết áp, vì vậy phải dùng thuốc tác động lên tất cả các khâu của cơ chế điều hòa huyết áp để làm giãn mạch, giảm lưu lượng tim dẫn đến hạ huyết áp (xem hình). Tất cả đều là thuốc chữa triệu chứng và nhiều thuốc đã được trình bày trong các phần có liên quan.

Các loại thuốc điều trị tăng huyết áp

Phân loại các thuốc hạ huyết áp theo vị trí hoặc cơ chế tác dụng:

Thuốc lợi niệu: làm giảm thể tích tuần hoàn

Nhóm thiazid.

Thuốc lợi niệu quai.

Thuốc huỷ giao cảm

Tác dụng trung ương: methyldopa, clonidin.

Thuốc liệt hạch: trimethaphan.

Thuốc phong toả nơron: guanethidin, reserpin.

Thuốc chẹn β: propranolol, metoprolol

Thuốc huỷ α: prazosin, phenoxybenzamin.

Thuốc giãn mạch trực tiếp

Giãn động mạch  hydralazin, minoxidil, diazoxid.

Giãn động mạch và tĩnh mạch: nitroprussid.

 Thuốc chẹn kênh calci

Nifedipin, felodipin, nicardipin, amlodipin.

Thuốc ức chế enzym chuyển angiotensin

Captopril, enalapril, ramipril.

Thuốc đối kháng tại receptor angiotesin II

Losartan, Irbesartan.