- Trang chủ
- Sách y học
- Sinh lý y học
- Cung lượng tim: đánh giá bằng phương pháp chỉ thị mầu
Cung lượng tim: đánh giá bằng phương pháp chỉ thị mầu
Chất chỉ thị ngay sau đó chảy từ tim phải qua động mạch phổi, vào tâm nhĩ trái, cuối cùng là tâm thất trái, theo dòng máu vào tuần hoàn ngoại vi.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Trên động vật thực nghiệm, có thể đặt ống vào động mạch chủ, động mạch phổi và các mạch máu lớn của tim để đánh giá cung lượng tim thông qua lưu lượng kế.
Ngoài ra, có thế sử dụng lưu lượng kế điện từ hay lưu lượng kế siêu âm đặt ở động mạch chủ hoặc động mạch phổi để tính cung lượng tim.
Trên người,trừ một vài trường hợp đặc biệt, đa số đều tính cung lượng tim thông qua phương pháp trực tiếp không cần mổ. Hai phương pháp thường được sử dụng là phương pháp thay đổi nồng độ oxy và phương pháp dùng chất chỉ thị.
Cung lượng tim có thể đánh giá qua siêu âm tim, phương pháp sử dụng sóng âm truyền qua thành ngực và thực quản để đánh giá kích thước buồng tim cũng như vận tốc máu lưu thông từ tim phải lên động mạch chủ.
Lưu lượng máu sẽ được tính thông qua tốc độ vận chuyển máu qua động mạch chủ, diện tích mặt cắt ngang động mạch chủ được đánh giá thông qua đo đường kính thành mạch dưới hướng dẫn siêu âm. Cung lượng tim lúc này được tính qua nhịp tim và lưu lượng máu chảy.
Để đánh giá cung lượng tim, người ta bơm một lượng nhỏ chất chỉ thị vào trong các tĩnh mạch lớn, và vào tâm nhĩ phải. Chất chỉ thị ngay sau đó chảy từ tim phải qua động mạch phổi, vào tâm nhĩ trái, cuối cùng là tâm thất trái, theo dòng máu vào tuần hoàn ngoại vi. Độ tập trung của chất chỉ thị được tính thông qua một động mạch.

Hình. Nồng độ thuốc nhuộm được sử dụng để tính toán hai cung lượng tim riêng biệt bằng phương pháp pha loãng (diện tích hình chữ nhật là nồng độ thuốc nhuộm trung bình được tính trong máu động mạch trong khoảng thời gian của các đường cong tương ứng).
Ở thời điểm ban đầu, 5 ml chất chỉ thị được bơm vào máu, sau 3s chất chỉ thị chưa vào tới động mạch, nhưng sau đó nồng độ chất chỉ thị ở động mạch tăng nhanh,và đạt đỉnh ở 6-7 giây sau tiêm. Sau đó, độ tập trung thuốc lại giảm nhanh, nhưng một lượng thuốc chỉ thị lại được đưa trở về tim, nên đồ thị lại tăng. Vậy để tránh sai số, chúng ta cần sử dụng phương pháp ngoại suy để quy điểm thấp nhất của độ tập trung sau lần giảm đầu về 0, được biểu diễn đường nằm ngang trên đồ thị. Theo cách này, đồ thị tính được độ tập trung chất chỉ thị ở lần đầu và các lần tiếp theo do chất chỉ thị quay lại tuần hoàn.
Khi đã thể hiện trên đồ thị ngoại suy theo thời gian, thì ta có thể tính độ tập trung chất chỉ thị ở bất kì thời điểm nào. Ở hình trên, ta có thể tính được diện tích đường cong với trục hoành của cả đồ thị ban đầu và đồ thì đã ngoại suy, nên có thể tính được giá trị tập trung trung bình tại một thời điểm. Dựa vào hình chữ nhật kẻ trên hình, ta có thể tính được độ tập trung trung bình là 0,25 mg/dl và ở thời điểm 0,12s. Tổng 5 mg chất chỉ thị được đưa vào máu mà chỉ có 0,25 mg được vận chuyển cho mỗi 100 ml máu, với tổng thời gian 0,12 giây, 5 mg đã vận chuyển qua cả tim và phổi.
Vì vậy thể tích máu bằng 20 phần 100 ml được tim bơm sẽ là 2l/ 12 giây hay 10l/phút. Tóm lại, cung lượng tim được tính theo công thức sau:
CLT (ml/phút) = [Khối lượngchất chỉ thị × 60]/[(nồng độ chất chỉ thị trung bình) x (thời gian trung bình)].
Bài viết cùng chuyên mục
Sinh lý hệ mạch máu
Tim trái tống máu vào động mạch chủ, tạo ra một áp lực lớn đưa máu qua vòng tuần hoàn cho đến tim phải: áp lực cao nhất trong động mạch chủ và thấp nhất trong tâm nhĩ phải.
Giải phẫu chức năng của khu vực liên hợp trán trước
Khu vực liên hợp trước trán cũng cần thiết để thực hiện quy trình “tư tưởng”. Đặc điểm này có lẽ là kết quả của một số tính năng tương tự của vỏ não trước trán cho nó lập kế hoạch hoạt động vận động.
Receptor: sự nhậy cảm khác nhau của các receptor
Mỗi loại cảm giác cơ bản mà chúng ta có thể biết được như đau, sờ, nhìn, âm thanh và nhiều loại khác được gọi là một phương thức cảm giác.
Sinh lý hoạt động ức chế
Mỗi khi có một kích thích mới và lạ, tác động cùng một lúc với kích thích gây phản xạ có điều kiện, thì phản xạ có điều kiện đó không xuất hiện.
Phát hiện mầu sắc bằng tương phản mầu sắc
Cơ chế của phân tích phát hiện màu sắc phụ thuộc vào sự tương phản màu sắc, gọi là “đối thủ màu sắc”, kích thích các tế bào thần kinh đặc hiệu.
Điều hòa vận động: vai trò của phản xạ gân
Các thụ thể ở gân cũng có đáp ứng động và đáp ứng tĩnh giống như suốt cơ, đáp ứng mạnh mẽ với sự thay đổi đột ngột trương lực cơ rồi ngay sau đó giảm xuống, đáp ứng một cách yếu hơn nhưng bền vững hơn để duy trì trạng thái trương lực cơ mới.
Chức năng của vùng hải mã: vùng kéo dài của vỏ não
Hải mã và các cấu trúc nằm cạnh thùy thái dương và thùy đỉnh, được gọi là khối hải mã liên kết chủ yếu gián tiếp với nhiều phần của vỏ não cũng như các cấu trúc cơ bản của hệ limbic – thể hạnh nhân, vùng dưới đồi, vách trong suốt và thể vú.
Sự hấp thu thủy dịch của mắt
Sau khi thủy dịch được hình thành từ các mỏm mi, nó sẽ lưu thông, thông qua lỗ đồng tử đi vào tiền phòng của mắt sau đó chảy vào góc giữa giác mạc và mống mắt.
Lưu lượng máu đến ruột chịu ảnh hưởng của hoạt động và tác nhân chuyển hóa ruột
Mặc dù các nguyên nhân chính xác gây tăng lượng máu khi đường tiêu hóa hoạt động vẫn chữa được biết rõ, nhưng một vài phần đã được làm sáng tỏ.
Sinh lý sinh dục nam giới
Mỗi người nam có 2 tinh hoàn, khi trưởng thành mỗi tinh hoàn có kích thước trung bình khoảng 4,5 x 2,5 cm, nặng khoảng 10 - 15 gram.
Sinh lý thần kinh tiểu não
Tiểu não có chức năng điều hòa trương lực cơ, qua đó giữ thăng bằng cho cơ thể. Đồng thời, tiểu não được xem là một cơ quan kiểm soát
Chuyển hóa của thai nhi
Thai có khả năng dự trữ chất béo và protein, hầu hết chất béo được tổng hợp từ đường. Những vẫn đề đặc biệt chuyển hóa của thai liên quan đến calci, phosphate, sắt và một số vitamin.
Sự khuếch tán dễ qua màng tế bào
Khuếch tán được làm dễ cần đến sự giúp đỡ của protein mang. Protein mang giúp một phân tử hay ion đi qua màng bởi liên kết hóa học với chúng.
Điều hòa thần kinh của lưu lượng máu ống tiêu hóa
Sự kích thích hệ thần kinh phó giao cảm dẫn truyền tới dạ dày và đại tràng làm tăng lượng máu tại chỗ trong cùng một lúc và làm tăng hoạt động bài tiết của tuyến.
Điều hòa hoạt động của tim bằng cơ chế thần kinh
Cơ chế điều hòa hoạt động tim thông qua phản xạ thần kinh và thể dịch, là yếu tố đặc biệt quan trọng để tăng cung lượng tim khi mạng ngoại vi giám, tăng tuần hoàn tĩnh mạch.
Sinh lý bạch cầu máu
Toàn bộ quá trình sinh sản, và biệt hoá tạo nên các loại bạch cầu hạt, và bạch cầu mono diễn ra trong tuỷ xương.
Sự bài tiết ở thực quản
Chất nhày được bài tiết bởi các tuyến phức hợp ở phần trên của thực quản giúp ngăn cản sự trầy xước niêm mạc gây ra khi thức ăn mới đi vào, trong khi các tuyến phức hợp ở ranh giới giữa thực quản và dạ dày.
Sinh lý hồng cầu máu
Hồng cầu không có nhân cũng như các bào quan, thành phần chính của hồng cầu là hemoglobin, chiếm 34 phần trăm trọng lượng.
Cảm giác tư thế: cảm giác cảm thụ bản thể
Sự nhận thức về tư thế, gồm cả động và tĩnh, phụ thuộc vào nhận biết về mức độ gập góc của tất cả các khớp trong các mặt phẳng và sự thay đổi tốc độ của chúng.
Hệ thống đệm hemoglobin cho PO2 ở mô
O2 có thể thay đổi đáng kể, từ 60 đến hơn 500 mm Hg, nhưng PO2 trong các mô ngoại vi không thay đổi nhiều hơn vài mmHg so với bình thường, điều này đã chứng minh rõ vai trò "đệm oxy" ở mô của hệ thống hemoglobin trong máu.
Các chuyển đạo trước tim (chuyển đạo ngực): các chuyển đạo điện tâm đồ
ECG của tim người khỏe mạnh như ghi lại từ sáu chuyển đạo ngực tiêu chuẩn. Vì các mặt của tim là gần với thành ngực, mỗi chuyển đạo ngực ghi lại chủ yếu là điện thế của hệ cơ tim ngay bên dưới điện cực.
Giải phẫu sinh lý của hệ giao cảm: hệ thần kinh tự chủ
Hệ thần kinh tự chủ cũng thường hoạt động thông qua các phản xạ nội tạng. Đó là, những tín hiệu cảm giác nội tại từ các cơ quan nội tạng có thể truyền tới các hạch tự chủ, thân não, hoặc vùng dưới đồi.
Hình thành bạch huyết của cơ thể
Hệ thống bạch huyết cũng là một trong những con đường chính cho sự hấp thụ các chất dinh dưỡng qua đường tiêu hóa, đặc biệt là cho sự hấp thụ của hầu như tất cả các chất béo trong thực phẩm.
Đại cương sinh lý học về máu
Máu được tim bơm vào hệ thống mạch máu và đi khắp cơ thể. Trong công tác chăm sóc sức khoẻ, máu đặc biệt được quan tâm vì có nhiều xét nghiệm chẩn đoán được thực hiện trên máu.
Thở ô xy toàn phần: tác động lên PO2 ở các độ cao khác nhau
SaO2 ở các độ cao khác nhau trong trường hợp thở oxy toàn phần. Chú ý rằng SaO2 luôn đạt mức trên 90% khi ở độ cao dưới 11900 m, và giảm nhanh xuống 50% ở độ cao 14330 m.
