Bài tiết dịch tiêu hóa ruột bởi hang Lieberkuhn

2022-04-18 03:56 PM

Tế bào biểu mô nằm sâu trong các hang tuyến Lieberkuhn liên tục phân chia, và những tế bào mới di chuyển dọc theo màng đáy lên phía trên và ra ngoài tới đỉnh của các lông nhung.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Nằm ở vị trí bao phủ toàn bộ bề mặt của ruột non là các lõm niêm mạc được gọi là Hang Lieberkuhn. Những hang này nằm giữa các lông nhung đường ruột. Bề mặt của cả các hang và lông nhung đều được bao phủ bởi biểu mô gồm 2 loại tế bào: (1) một số lượng trung bình các tế bào hình đài- bài tiết chất nhày nhằm bôi trơn và bảo vệ bề mặt đường ruột và (2) một số lượng lớn các tế bào ruột, với các tế bào nằm trong các hang thì bài tiết một lượng lớn nước và các chất điện giải thì tại vùng biểu mô giữa các lông nhung, lại diễn ra sự tái hấp thu nước và điện giài cùng với các sản phẩm cuối cùng của quá trình tiêu hóa. Dịch bài tiết ở ruột được hình thành do các tế bào ruột bên trong các hang này với tốc độ vào khoảng 1800ml/ngày. Những dịch bài tiết này đều là dịch ngoại bào thuần túy và có một chút kiềm nhẹ với pH trong khoảng 7.5 đến 8.0. Dịch bài tiết này sau đó nhanh chóng được tái hấp thu bởi các lông nhung. Dòng chảy của dịch từ các hang này vào các lông nhung cung cấp một đường vận chuyển lỏng cho sự hấp thu các chất trong nhũ chấp khi chúng đến gắn với các lông này. Do đó, hoạt động cơ bản của ruột non là háp thu các chất dinh dưỡng và các sản phẩm chuyển hóa vào trong máu.

Hang Lieberkühn

Hình. Hang Lieberkühn, được tìm thấy trong tất cả các phần của ruột non giữa các nhung mao, nơi tiết ra dịch ngoại bào gần như tinh khiết.

Cơ chế của sự bài tiết dịch lỏng

Cơ chế chính xác điều khiển sự bài tiết rõ rệt của dịch lỏng bởi các hang Lieberkuhn không được rõ rang, nhưng có thể chúng bao gồm ít nhất 2 quá trình bài tiết chủ động:

(1) Sự bài tiết chủ động ion Chloride vào các hang tuyến.

(2) Sự bài tiết chủ động ion bicarbonate. Sự bài tiết cả 2 loại ion gây ra một lực cản điện tích với các ion Na+ tích điện âm qua màng và vào trong dịch bài tiết một cách rất hiệu quả. Cuối cùng, tất các các ion này cùng nhau tạo nên áp lực thẩm thấu cho sự khuếch tán của nước.

Sự bài tiết các enzyme tiêu hóa ở ruột non

Khi thu dịch bài tiết của ruột non không có các mảnh tế bào lại, chúng không hề chứa bất kỳ một enzyme nào. Các tế bào ruột ở niêm mạc, đặc biệt những tế bào bao phủ lông nhung, chứa các enzyme tiêu hóa có khả năng phân giải các chất thức ăn đặc thù khi chúng bị hấp thu thông qua lớp biểu mô. Những enzyme này bao gồm: (1) một vài peptidases để phân cắt các peptite nhỏ thành các acid amin; (2) 4 enzyme - sucrose, maltase, isomaltase, và lactase - để phân cắt các đường đôi thành đường đơn; và (3) một lượng nhỏ lipase ruột để phân cắt các chất béo trung tính thành glycerol và các acid béo.

Tế bào biểu mô nằm sâu trong các hang tuyến Lieberkuhn liên tục phân chia, và những tế bào mới di chuyển dọc theo màng đáy lên phía trên và ra ngoài tới đỉnh của các lông nhung, sau đố tiếp tục thay thế các tế bào biểu mô lông nhung và tạo các enzyme tiêu hóa mới. Khi những tế bào biểu mô lông nhung già đi, chúng sẽ rơi vào trong dịch tiêu hóa ở ruột. Vòng đời của một tế bào biểu mô đường ruột vào khoảng 5 ngày. Sự tăng trường nhanh chóng của các tế bào mới cũng đảm bảo cho sự sửa chữa nhanh chóng các xây xước trên niêm mạc đường ruột.

Yếu tố quan trong nhất có ý nghĩa trong việc điều hòa bài tiết ở ruột non là phản xạ phần kinh ruột tại chỗ, đặc biệt là các phản xạ bắt nguồn từ các kích thích xúc giác và căng giãn từ dịch nhũ chấp trong ruột.

Bài viết cùng chuyên mục

Khuếch tán khí qua màng hô hấp: các yếu tố ảnh hưởng

Hệ số khuếch tán khí phụ thuộc vào khả năng hòa tan của khí trong màng tế bào, và hệ số này tỷ lệ nghịch với trọng lượng phân tử. Tỷ lệ khuếch tán khí trong màng hô hấp là gần như chính xác tương tự như trong nước.

Sinh lý thần kinh tủy sống

Do trong quá trình phát triển, cột sống phát triển nhanh hơn tủy sống nên phần thấp nhất của tủy sống chỉ ngang gian đốt sống thắt lưng 1-2 (L1-L2). Vì vậy, khi chọc dò dịch não tủy, để tránh gây tổn thương tủy sống, ta thường chọc ở vị trí thắt lưng 4-5 (L4-L5).

Di chuyển của các dòng điện trong ngực quanh tim trong suốt chu kỳ tim

Xung động tim đầu tiên đến trong tâm thất trong vách liên thất và không lâu sau đó lan truyền đến mặt bên trong của phần còn lại các tâm thất, như thể hiện bởi vùng màu đỏ và điện âm ký hiệu trên hình.

Loạn nhịp nút xoang: nhịp xoang không bình thường

Loạn nhịp nút xoang có thể do 1 trong nhiều trạng thái của hệ tuần hoàn biến đổi làm tăng tín hiệu của thần kinh giao cảm và hệ thần kinh phó giao cảm đến nút xoang.

Cơ chế hô hấp trong khi vận động

Phân tích nguyên nhân gây ra sự gia tăng thông khí trong quá trình vận động, một trong những nguyên nhân gây tăng thông khí là do tăng CO2 máu và hydrogen ions, cộng với sự giảm O2 máu.

Hình thành acid acetoacetic trong gan và sự vận chuyển trong máu

Các acid acetoacetic, acid β-hydroxybutyric, và acetone khuếch tán tự do qua màng tế bào gan và được vận chuyển trong máu tới các mô ngoại vi, ở đây, chúng lại được khuếch tán vào trong tế bào.

Sự điều hòa nồng độ canxi cơ thể người

Ngay khi cơ chế canxi dễ trao đổi trong xương kiểm soát nồng độ canxi dịch ngoại bào, cả hệ PTH và calcitonin đều phản ứng. Chỉ trong 3-5 phút sau sự tăng cấp tính của ion canxi, tốc độ tiết PTH giảm.

Các chuyển đạo trước tim (chuyển đạo ngực): các chuyển đạo điện tâm đồ

ECG của tim người khỏe mạnh như ghi lại từ sáu chuyển đạo ngực tiêu chuẩn. Vì các mặt của tim là gần với thành ngực, mỗi chuyển đạo ngực ghi lại chủ yếu là điện thế của hệ cơ tim ngay bên dưới điện cực.

Dẫn truyền xung động từ tận cùng thần kinh tới sợi cơ vân: Khớp thần kinh cơ

Điện thế hoạt động bắt đầu lan truyền trong các sợi cơ vân bởi các xung thần kinh đi theo cả hai hướng về phía tận cùng sợi cơ.

Hệ nội tiết và sinh sản của nữ

Những hormone FSH và LH  hormone thùy trước tuyến yên, hormone kích thích nang trứng (FSH) và hormone hoàng thể hormone buồng trứng, estrogen và progesteron, được bài tiết với nồng độ liên tục thay đổi trong suốt các gai đoạn khác nhau của chu kỳ kinh nguyệt.

Vận chuyển và lưu trữ Amino Acids trong cơ thể

Sản phẩm của quá trình tiêu hóa protein và hấp thụ trong đường tiêu hóa gần như hoàn toàn là các amino acid; hiếm khi là các polypeptid hoặc toàn bộ phân tử protein được hấp thu quá hệ tiêu hóa vào máu.

Tín hiệu thần kinh: sự hội tụ của các tín hiệu từ các sợi đến khác nhau

Sự hội tụ cho phép tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, và đáp ứng đưa đến là một hiệu quả được tổng hợp từ tất cả các loại thông tin khác nhau.

Khoảng các từ vật tới mắt: xác định chiều sâu

Nếu ta đã biết một người nào đó cao 6 feet, ta có thể biết được người đó cách ta bao xa thông qua kích thước ảnh của người đó trên võng mạc.

Sự dẫn truyền cảm giác: đặc điểm trong con đường trước bên

Hệ trước bên là hệ thống dẫn truyền chưa phát triển bằng hệ thống cột tủy sau - dải cảm giác giữa. Thậm chí, các phương thức cảm giác nhất định chỉ được dẫn truyền trong hệ thống này.

Sự trưởng thành và thụ tinh của trứng: quyết đinh giới tính thai nhi

Sau khi phóng tinh dịch vào trong âm đạo trong quá trình giao hợp, một số tinh trùng sẽ di chuyển trong vòng 5 đến 10 phút theo hướng đi lên từ âm đạo đến tử và vòi tử cung, đến đoạn bóng của vòi tử cung.

Tái lập chênh lệch nồng độ ion natri và kali sau khi điện thế hoạt động màng tế bào kết thúc và vấn đề của chuyển hóa năng lượng

Các ion natri đã khuếch tán vào bên trong các tế bào trong suốt quá trình điện thế hoạt động và các ion kali vừa khuếch tán ra ngoài phải được trả lại trạng thái ban đầu.

Trao đổi chất của cơ tim

ATP này lần lượt đóng vai trò như các băng tải năng lượng cho sự co cơ tim và các chức năng khác của tế bào. Trong thiếu máu mạch vành nặng, ATP làm giảm ADP, AMP và adenosine đầu tiên.

Hiệu quả của hệ thống điều hòa cơ thể

Nếu xem xét sự tự nhiên của điều hòa ngược dương tính, rõ ràng điều hòa ngược dương tính dẫn đến sự mất ổn định chức năng hơn là ổn định và trong một số trường hợp, có thể gây tử vong.

Điều chỉnh huyết áp: vai trò của hệ thống thận - thể dịch

Hệ thống dịch thận - thể dịch trong kiểm soát huyết áp là một cơ chế căn bản cho kiểm soát huyết áp lâu dài. Tuy nhiên, qua các giai đoạn của quá trình tiến hóa, đã có nhiều biến đổi để làm cho hệ thống này chính xác hơn trong thực hiện vai trò của nó.

Cuồng động nhĩ: rối loạn nhịp tim

Cuồng nhĩ gây ra nhịp dẫn truyền nhanh nhĩ thường là 200-350 nhịp/ phút. Tuy nhiên, bởi vì một phía của nhĩ co trong khi phía kia đang giãn, lượng máu nhĩ bơm rất ít.

Tăng huyết áp: tăng thể tích dịch gây tăng cung lượng tim hoặc kháng lực ngoại vi

Bất cứ sự vượt quá lưu lượng máu chảy qua một mô, đều làm co mạch cục bộ và làm giảm lưu lượng máu về bình thường. Hiện tượng này được gọi là "tự điều hòa", điều đó có nghĩa đơn giản là sự điều hòa lưu lượng máu của chính mô đó.

Các van tim ngăn sự quay lại của dòng máu kỳ tâm thu

Đặc điểm giải phẫu của van động mạch chủ và van động mạch phổi phải được cấu tạo với một mô sợi đặc biệt mạnh mẽ nhưng cũng phải rất mềm dẻo để chịu đựng được thêm gánh nặng vật lý.

Ảnh hưởng của hormon tuyến giáp đến chức năng cụ thể của cơ thể

Tác dụng lên chuyển hóa carbohydrate, chuyển hóa chất béo, mỡ trong máu và trong gan, nhu cầu vitamin, chuyển hóa cơ sở, trọng lượng cơ thể, dòng máu và lưu lượng tim.

Synap thần kinh trung ương: synap hóa và synap điện

Sự dẫn truyền tín hiệu tại ở loại synap hóa học chỉ theo 1 chiều, từ sợi thần kinh tiết ra chất dẫn truyền (được gọi là sợi trước synap) đến sợi sau nó (được gọi là sợi sau synap).

Suy nghĩ ý thức và trí nhớ của con người

Mỗi suy nghĩ bao gồm những tín hiệu đồng thời trên nhiều vùng của vỏ não, đồi thị, hệ viền, và chất lưới của thân não. Một vài suy nghĩ cơ bản hầu như chắc chắn phụ thuộc hầu hết hoàn toàn vào trung tâm dưới vỏ.