Cây gừng dại

2015-09-11 01:20 PM
Cây này hầu như chưa thấy sử dụng ở miền Bắc Việt Nam, Dân tộc Bana huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định rất hay dùng thân rễ gừng dại với tên ngải, zơrong để chữa lỵ mãn

Còn gọi là Zơrơng (Bình Định).

Tốn khoa học Zingibcr cassumunar Roxb.

Thuộc họ Gừng Zìngìberaceae.

Mô tả cây

Cây gừng dại

Cây thảo, cao 2m, có thân rễ lớn hơn củ gừng, màu lục vàng, mùi nông tựa hạt tiêu. Lá không cuống, hình thuôn mũi mác, gốc lá tròn, đầu thóp nhọn, mặt trên nhẵn, mặt dưới hơi có lông như bột. Phiến lá dài tới 40cm, rộng 3,5cm, lưỡi bẹ dạng vẩy mỏng, bẹ lá có khía, có lông.

Cán hoa có lông, dài trung bình 15-25cm váy có lông ở gốc, hình mũi mác, không lợp lên nhau, cụm hoa hình thoi, nhiều hoa, dài khoảng 11 cm, rộng 4-6cm, lá bắc lợp lên nhau, mép màu tía. Hoa mau tàn, tràng có ống không vượt quá các lá bấc, thùy hẹp dài. Bao phấn ngắn hơn cánh mồi, trung đới dài và mềm yếu. Cánh môi hình tròn chẻ sâu, màu vàng nhạt, có thùy bèn do nhị lép tạo thành. Bầu có lông.

Mùa hoa: tháng 7-8, quả: tháng 7-9.

Phân bố thu hái và chế biến

Cây mọc hoang dại ở vùng núi Ba Vì (thuộc Hà Tây). Có nhiều ở các tỉnh micn Nam, được khai thác và sử dụng với tên zơrcmg (huyện Túy Sơn, tỉnh Bình Định).

Còn thấy ở Thái Lan (mang tên Phlai), ấn độ, Malaixia.

Nhân dân thu hái thân rễ, đem về rửa sạch, thái mỏng phơi hay sấy khô làm thuốc.

Thành phần hóa học

Năm 1979, Trạm nghiên cứu dược liệu Nghĩa Bình đã cất từ thân rễ tươi của gừng dại được 0,5-0,8% tinh dầu. Từ thân rễ quy ra khô kiệt được 4-5% tinh dầu. Tinh dầu màu vàng nhạt, sánh, mùi thơm. Để ở nhiệt độ phòng thí nghiệm, sau 5 ngày tinh dầu có khoảng 50-70% tinh thể, nếu để tinh dầu ngay vào tủ lạnh thì chỉ 2 giờ sau kết tinh. Tinh thể màu trắng đục, mùi nồng, vị nhạt, không tan trong nước lạnh, tan trong nước ấm rồi nổi lên mặt nước, để lạnh sẽ kết tinh trở lại, tan hoàn toàn trong dung môi hữu cơ.

Theo M.Lawrcnce, J. w . Hogg và St, J. Terhune (RiechstoịỴe, Aromen, Korper- flegemittel 20, 261. 910-Mihitzer Bericìưe, 1971, 48) tinh dầu cất từ thân rễ gừng dại ở Thái Lan có tỷ trọng D20 0,894. Bằng sắc ký khí và phổ hồng ngoại đã xác định dược 2,5% apinen, 0,1% camphen, 2,1% (3pinen, 33,4% sabinen, 1,6% myrxen, 4,8% Cítccpincn, 0,7% limonen, 1,1% 1-8 xineol, 9% ỵtecpinen, 2,1% p-cymol, 2,1% tecpinolcn, 0,6% trans sabinenhydrat, 0,5% cis- sabinenhydrat, 0,7% cis-p-menthen-2-ol (1), 33,3% tepinenol (4), 0,5% trans-p-menthen-2- ol(l)+tecpinenl-yl-4-axetat, 0,4% octecpineol + cctecinylaxetat, 0,2% cis-piperitol, 4,3% một thành phần chưa xác định được.

Năm 1971. T. E. Casey, J . Dougan, w. s. Matthews và J. Nabney (Tropical Sc. 13, 199- Mỉìtitzer Berìchte 1972, 60) nghiên cứu tinh dầu cất từ thân rễ gừng dại Thái Lan thu được 0,55 tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm hơi cay, với tỷ trọng d2U 0,895, αD20 33“2, T1D20 1,489, tan trong 4,6 phẩn cồn 80°, với 36,5% ancol toàn phần, trong đó có khoảng 35% tecpirienol-(4). Ngoài ra còn xác định một số thành phần khác như apinen, Ppinen, sabinen, myrxen, Cttecpinen, limonen, tecpinen, P-cymol và tecpinolen và một số thành phần chưa xác định khác.

Năm 1975, (Iníernat. Pìavours 6, 136 1936- Miỉtìier Berichte 1975, 70) D. M. Baker và J . Nabney đã tách được từ linh dầu gừng dại Thái Lan chất l-(3,4-dimetoxyphenyl) butadicn (2,4). Chất này đã được TEGisey, J.Dougpn, W.S. Matthevvs và J. Nabney xác định một số năm nhưng vẫn chưa tách ra được (Vgl. Tropìcat Sc. 13, 199. 1971).

Công dụng và liều dùng

Cây này hầu như chưa thấy sử dụng ở miền Bắc Việt Nam. Dân tộc Bana huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định rất hay dùng thân rễ gừng dại với tên “ngải”, zơrơng” để chữa lỵ mãn tính, toi gà.

Nhân dân Malaixia dùng thân rễ cho trẻ ăn đc tẩy giun và cho phụ nữ sắc uống sau khi đẻ. Thân rễ ngâm rượu dùng xoa bóp bụng cho phụ nữ sau khi dẻ. Người ta còn dùng chữa thấp khớp, đau nhức và những trường hợp viêm tấy.

Bài mới nhất

Cơ quan Corti: tầm quan trọng trong việc thu nhận âm thanh

Sóng chạy: sự dẫn truyền của sóng âm trong ốc tai

Giải phẫu và chức năng của ốc tai

Dẫn truyền âm thanh từ màng nhĩ đến ốc tai: phối hợp trở kháng bởi xương con

Điều soát kích thước đồng tử của mắt

Tập trung mắt: điều hòa điều tiết mắt

Điều tiết và độ mở của đồng tử: điều hòa tự động thần kinh tự động của mắt

Lác mắt: tổn thương điều hợp của mắt

Thị giác từ hai mắt: hợp nhất các hình ảnh

Chuyển động mắt theo đuổi: chú ý các đối tượng chuyển động

Cử động định hình của mắt: cử động làm cho mắt tập trung

Cử động vận nhãn: thần kinh chi phối cử động của mắt

Vỏ não thị giác sơ cấp: hậu quả của sự loại bỏ vỏ não

Phát hiện mầu sắc bằng tương phản mầu sắc

Quá trình phân tích hình ảnh quan sát: trung khu thần kinh của sự kích thích

Phân tích thông tin thị giác: Con đường vị trí nhanh và chuyển động và Con đường mầu sắc và chi tiết

Vỏ não thị giác: sáu lớp sơ cấp phân khu

Vỏ não thị giác: nguồn gốc và chức năng

Chuẩn độ liều insulin: đường huyết cao ở bệnh nhân Covid-19 và đái tháo đường

Theo dõi đường huyết ở bệnh nhân Covid-19: phương pháp tiếp cận thực tế

Covid-19 và bệnh đái tháo đường: định liều lượng Insulin khi bắt đầu phác đồ Insulin nền-Bolus

Insulin nền-Bolus cho bệnh nhân nhập viện với Covid-19: các nguyên tắc cơ bản

Đồi thị: chức năng thị giác của nhân gối bên sau

Dẫn truyền thị giác: đường dẫn truyền từ hai võng mạc đến vỏ não thị giác

Nhãn áp: sự điều tiết nhãn áp của mắt