Bách thảo sương

2015-10-22 04:37 PM
Bách thảo sương vị cay, tính ôn, vào hai kinh tâm và phế. Có tác dụng cầm máu, giúp sự tiêu hóa và giải độc. Dùng chữa chảy máu cam, chảy máu chân răng

Còn gọi là oa đề khôi, nhọ nồi.

Bách thảo sương (Pulvis Fumicarhonisatus) là chất mịn màu đen bám vào các đáy nổi, chảo đun bằng rơm rạ hay cỏ khô. Có thể thu hoạch quanh năm.

Tính chất

Nhọ nồi phải màu đen mịn, nhẹ, không có mùi vị gì khó chịu là tốt.

Thành phần hóa học

Chủ yếu là cacbon.

Công dụng và liều dùng

Theo lài liệu cổ: Bách thảo sương vị cay, tính ôn, vào hai kinh tâm và phế. Có tác dụng cầm máu, giúp sự tiêu hóa và giải độc. Dùng chữa chảy máu cam, chảy máu chân răng, tả lỵ, động thai. Ngày dùng 6 đến 12g.

Đơn thuốc cá bách thảo sương

Chữa chảy máu chân răng: Dùng bách thảo sương bồi vào.

Chữa chốc đầu: Dùng bách thảo sương trộn với mỡ lợn bôi vào nơi chốc đã rửa sạch.

Chữa tả lỵ: Bách thảo sương uống với nước cháo nóng, ngày 2 lần, mỗi lẩn uống 8g.

Chữa chảy máu cam: Tán bách thảo sương thổi vào mũi.

Bài xem nhiều nhất

  • Cây trắc bách diệp (bá tử nhân)

  • Trắc bách diệp vị đắng, chát, hơi hàn, vào 3 kinh phế, can, đại tràng. Có tác dụng lương huyết, cầm máu, thanh huyết phận thấp nhiệt. Chữa thổ huyết, máu cam

  • Cây tam thất (sâm tam thất)

  • Rễ tam thất có tác dụng làm tăng sức đề kháng của súc vật đối với yếu tố độc hại như liều độc uabain với tim, nhiệt độ môi trường xung quanh quá cao hoặc quá thấp

  • Cây rau ngổ (rau ngổ trâu)

  • Cây mọc phổ biến trong các ao hồ khắp các tỉnh ở Việt Nam. Còn thấy ở Ấn Độ, Inđônexya, Thái Lan. Thường hái lá non, dùng tươi hay phơi khô làm thuốc.

  • Cây nghể (thủy liễu)

  • Nghể là một loại cỏ mọc hoang, sống hằng năm, có thể cao tới 70-80cm, có nhiều cành. Lá hình mác, có cuống ngắn, dài 4-6cm, rộng 10 - 13mm

  • Cây thiến thảo (thiên căn)

  • Cây mọc hoang dại ở những vùng núi cao mát nhu Sapa, Nghĩa Lộ, Lai Châu. Người ta đào rẽ vào thu đông, rửa sạch, thái mỏng, phơi hay sấy khô.

  • Cây vạn tuế (thiết thụ)

  • Hiện nay thường dùng lá chữa mọi chứng chảy máu, máu cam, chữa.lỵ, chữa những trường hợp đau nhức như đau dạ dày, đau lưng, đau nhức ở khớp xương

  • Cây long nha thảo

  • Có tài liệu cũ nói trong long nha thảo có tanin, có phản ứng phloroiducotanoit, rất ít tính dầu, không có ancaloit, không có glucozit, không có chất béo, có sterol và một đường.

  • Cỏ nhọ nồi (cỏ mực)

  • Theo các nhà nghiên cứu trước, trong nhọ nồi có một ít tinh dầu, tanin, chất đắng, caroten và chất ancaloit gọi là ecliptin. Có sách nói chất ancaloit đó là nicotin.

  • Cây cỏ nến (bồ hoàng)

  • Cây cỏ nến là một thứ cỏ cao từ 1,50-3m, có thân rễ. Lá dài, hẹp. Hoa đơn tính cùng gốc, hợp thành bông riêng cách nhau 0,6-5,5cm, nằm trên cùng một trục chung

  • Cây địa du

  • Thành phần chủ yếu trong địa du là tanin, saponosit, flavon. Người xưa, dựa vào màu đỏ của hoa, liên hệ đến tác dụng cầm máu, chảy máu đường tiêu hoá, đường tiểu