- Trang chủ
- Sách y học
- Sinh lý y học
- Tinh trùng và sinh sản nam
Tinh trùng và sinh sản nam
Đôi khi một nam giới có số lượng tinh trùng bình thường nhưng vẫn bị vô sinh. Khi tình trạng này xảy ra, rất nhiều, thậm trí là một nửa số tinh trùng của người này có hình dạng bất thường, có hai đầu, bất thường đầu hay bất thường thân.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Sinh tinh bất thường và vô sinh nam
Biểu mô ống sinh tinh có thể bị phá hủy bởi nhiều nguyên nhân. Ví dụ, viêm tinh hoàn hai bên do quai bị có thể là nguyên nhân gây vô sinh ở một số nam giới. Ngoài ra, một số trẻ em nam sinh ra với thoái hóa biểu mô ống sinh tinh do hẹp đường dẫn tinh hay bất thường khác. Cuối cùng, một nguyên nhân của vô sinh nam, thường là tạm thời, là sự gia tăng nhiệt độ quá mức ở tinh hoàn.
Ảnh hưởng của nhiệt độ lên sự sinh tinh
Sự tăng nhiệt độ có thể ngăn cản sự sinh tinh vì nó có thể tiêu diệt hầu hết các tế bào trong ống sinh tinh ngoại trừ tinh nguyên bào. Đó là lý do tinh hoàn được treo ở hai túi bìu bên ngoài cơ thể mặc dù ở đó chỉ thấp hơn nhiệt độ cơ thể 2°C. Vào những ngày lạnh, phản xạ da bìu kéo tinh hoàn lại gần cơ thể để duy trì chênh lệch nhiệt độ 2°C này. Do đó bìu hoạt động như một cơ chế làm mát cho tinh hoàn (làm mát có kiểm soát), nếu không sự sinh tinh sẽ bị suy giảm trong những ngày trời nóng.
Ẩn tinh hoàn
Ẩn tinh hoàn là chỉ sự thất bại của quá trình di chuyển của tinh hoàn từ ổ bụng xuống bìu trong hoặc gần thời gian thai nhi sinh ra. Cùng với sự trưởng thành của thai nhi nam, tinh hoàn có nguồn gốc từ mầm sinh dục trong ổ bụng. Tuy nhiên trong khoảng 3 tuần đến 1 tháng sau khi sinh, tinh hoàn di chuyển dọc theo các kênh ở bẹn xuốn bìu. Đôi khi quá trình này xảy ra không đầy đủ, kết quả là một hay thậm trí cả 2 tinh hoàn ở lại trong bụng, ở ống bẹn hay ở bất kì vị trí nào khác trên đường di chuyển.
Một tinh hoàn còn sót lại trong ổ bụng qua thời gian sẽ mất đi khả năng sinh tinh trùng. Các tế bào biểu mô ống sinh tinh sẽ dần thoái hóa chỉ để lại tổ chức kẽ của tinh hoàn. Nó là một minh chứng cho việc nhiệt độ cao trong ổ bụng là nguyên nhân gây thoái hóa tế bào ống sinh tinh, do đó gây ra vô sinh, mặc dù ảnh hưởng này là không chắc chắn. Dù vậy, việc chuyển tinh hoàn từ ổ bụng xuống bìu trước khi bắt đầu đời sống sinh dục của người trưởng thành có thể thực hiện ở các nam giới có tinh hoàn lạc chỗ.
Tinh hoàn thai nhi tiết ra testosteron bình thường là nguyên nhân kích thích tinh hoàn di chuyển từ bụng xuống bìu. Do đó, môt phần, không phải tất cả, những trường hợp ẩn tinh hoàn là do bất thường ở tinh hoàn không tiết đủ testosterone. Phẫu thuật chuyển tinh hoàn xuống bìu ở những bệnh nhân như vậy là không có kết quả.
Tác động của số lượng tinh trùng lên khả năng sinh sản
Một lần xuất tinh bình thường nam giới tiết ra khoảng 3.5ml tinh dịch, và trong 1 ml tinh dịch có chứa khoảng 120 triệu tinh trùng, (thực ra là trong khoảng 35 triệu đến 200 triệu tinh trùng). Điều đó có nghĩa là một lần xuất tinh sẽ giải phóng cỡ 400 triệu tinh trùng có mặt trong vài milliliter tinh dịch. Khi số lượng tinh trùng trong mỗi milliliter giảm xuống dưới 20 triệu, người đó có thể bị vô sinh. Như vậy mặc dù chỉ cần một tinh trùng duy nhất cho sự thụ tinh, do lý do nào đó chưa được biết rõ, xuất tinh lại cần một số lượng lớn tinh trùng như vậy.

Hình. Tinh trùng bất thường vô sinh, so với tinh trùng bình thường bên phải.
Ảnh hưởng của hình thái học và di động tinh trùng lên khả năng sinh sản
Đôi khi một nam giới có số lượng tinh trùng bình thường nhưng vẫn bị vô sinh. Khi tình trạng này xảy ra, rất nhiều, thậm trí là một nửa số tinh trùng của người này có hình dạng bất thường, có hai đầu, bất thường đầu hay bất thường thân như mô tả trong hình. Trong trường hợp khác, tinh trùng có thể có cấu trúc bình thường, nhưng do một nguyên nhân nào đấy chưa biết, chúng ít di động hoặc hoàn toàn không di động. Bất cứ khi nào mà một phần tinh trùng có hình dạng bất thường hoặc không di động thì người đó có thể bị vô sinh mặc dù phần tinh trùng còn lại hoàn toàn bình thường.
Bài viết cùng chuyên mục
Cơ chế chung của sự co cơ
Acetylcholine hoạt động trên một khu vực cục bộ của màng sợi cơ để mở các kênh cation có “cổng acetylcholine” thông qua các phân tử protein lơ lửng trong màng.
Đại cương thân nhiệt cơ thể người
Tất cả các phản ứng tế bào, sinh hoá và enzyme đều phụ thuộc nhiệt độ. Vì thế, sự điều hoà thân nhiệt tối ưu là cần thiết cho các hoạt động sinh lý ở động vật hằng nhiệt.
Tủy sống: tổ chức hoạt động chức năng vận động
Mỗi đốt tủy có hàng triệu neurons trong chất xám. Đặt sang một bên các neuron trung gian truyền tín hiệu cảm giác, chúng ta có 2 loại neurons còn lại: neurons vận động tại sừng trước tủy sống và các neurons liên hợp.
Nhiệt độ bình thường của cơ thể
Nhiệt độ cơ thể tăng lên khi tập thể dục và thay đổi theo nhiệt độ khắc nghiệt của môi trường xung quanh vì cơ chế điều chỉnh nhiệt độ không hoàn hảo.
Điều hòa bài tiết hormone chống bài niệu (ADH)
Khi dịch ngoại bào trở nên quá ưu trương, do áp suất thẩm thấu nên dịch sẽ đi ra ngoài các tế bào receptor thẩm thấu, làm giảm kích thước tế bào và phát ra các tín hiệu lên vùng dưới đồi để tăng bài tiết ADH.
Sinh lý điều hòa hô hấp
Ở những trạng thái khác nhau của cơ thể, hoạt động của trung tâm hô hấp cần phải điều chỉnh để giữ PO2, PCO2, pH máu chỉ thay đổi trong giới hạn hẹp.
Chức năng dự báo của hệ thống ống bán khuyên để duy trì sự thăng bằng
Các ống bán khuyên dự đoán được trước rằng sự mất thăng bằng sắp xảy ra và do đó khiến các trung tâm giữ thăng bằng thực hiện sự điều chỉnh phù hợp từ trước, giúp người đó duy trì được thăng bằng.
Sự hấp thu thủy dịch của mắt
Sau khi thủy dịch được hình thành từ các mỏm mi, nó sẽ lưu thông, thông qua lỗ đồng tử đi vào tiền phòng của mắt sau đó chảy vào góc giữa giác mạc và mống mắt.
Dẫn truyền tín hiệu từ vỏ não đến tủy sống: nhân đỏ hoạt động như con đường phụ
Những sợi đỏ-tủy tận cùng (tạo synap) chủ yếu ở neuron trung gian ở vùng giữa của chất xám, cùng với các sợi vỏ tủy, nhưng một vài sợi đỏ tủy tận cùng trực tiếp ở neuron vận động (neuron alpha) ở sừng trước.
Vấn đề nội tiết ở trẻ sơ sinh
Thông thường, hệ nội tiết của trẻ sơ sinh thường rất phát triển lúc sinh, và đứa trẻ hiếm khi biểu hiện ngay bất cứ bất thường miễn dịch nào. Tuy nhiên, nội tiết của trẻ sơ sinh quan trọng trong những hoàn cảnh đặc biệt.
Điện tâm đồ: phân tích vector ở điện tâm đồ bình thường
Vì mặt ngoài của đỉnh tâm thất khử cực trước mặt trong, nên trong quá trình tái phân cực, tất cả các vector của tâm thất dương và hướng về phía đỉnh tim.
Chất giãn mạch: kiểm soát thể dịch của tuần hoàn
Vì kallikrein trở nên hoạt động, nó hoạt động ngay tức thì trên alpha Globulin để giải phóng kinin tên kallidin, sau đó được chuyển dạng bởi enzyme của mô thành bradykinin.
Sự khuếch tán của khí qua màng hô hấp: sự trao đổi khí CO2 và O2
Tổng lượng máu có trong mao mạch phổi dạo động từ 60ml tới 140ml, ta thấy với một lượng nhỏ thể tích máu mao mạch mà tại mao mạch lại có tổng diện tích lớn nên thế sẽ rất dễ dàng cho sự trao đổi khí CO2 và O2.
Thành phần của hệ renin angiotensin
Khi huyết áp động mạch giảm, phản ứng nội tại trong thận tạo ra nhiều phân tử prorenin trong các tế bào cận cầu thận để phân cắt và giải phóng renin.
Chức năng của Mineralocorticoids Aldosterone
Aldosterol chiếm phần lớn hoạt tính mineralocorticoid của hormon vỏ thượng thận, nhưng corticoid là glucocorticoid chính được tiết ở vỏ thượng thận, cũng tham giá đáng kể vào hoạt tính của mineralocorticoid.
Điện thế và thời gian chia chuẩn: điện tâm đồ bình thường
Những dòng dọc trên ECG là dòng thời gian chia chuẩn. Một ECG điển hình được chạy ở một tốc độ giấy 25mm/s, mặc dù tốc độ nhanh hơn đôi khi được sử dụng.
Sự bảo vệ cơ thể và tái sản xuất
Hệ miễn dịch có các vai trò phân biệt tế bào của cơ thể với tế bào và các chất lạ thường; phá hủy chúng nhờ đại thực bào hoặc tạo ra các lympho bào và prôtein đặc hiệu hoặc làm vô hiệu hoá các kháng nguyên.
Sinh lý thần kinh bán cầu đại não
Để nghiên cứu các vùng chức năng của vỏ não, người ta phân chia vỏ não theo nhiều cách khác nhau. Trong đó, cách phân chia vỏ não thành 50 vùng đánh số từ 1 đến 50 của Brodmann là thông dụng hơn cả.
Khuếch tán qua màng mao mạch: trao đổi nước và các chất giữa máu và dịch kẽ
Khuếch tán các phân tử nước và chất tan có chuyển động nhiệt di chuyển ngẫu nhiên theo hướng này rồi lại đổi hướng khác. Các chất hòa tan trong lipid khuếch tán trực tiếp qua các màng tế bào ở lớp nội mạc của các mao mạch.
Nồng độ canxi và phosphate dịch ngoại bào liên quan với xương
Tinh thể xương lắng đọng trên chất căn bản xương là hỗn hợp chính của calcium và phosphate. Công thức chủ yếu của muối tinh thể, được biết đến như là hydroxyapatit.
Chất kháng giáp ức chế bài tiết của tuyến giáp
Thuốc kháng giáp được biết đến nhất là thyocyanate, propyl-thiouracil, và nồng độ cao iod vô cơ, những thuốc này ngăn chặn bài tiết hormon giáp theo những cơ chế khác nhau.
Huyết áp: cơ chế cảm nhận và phản xạ để duy trì huyết áp bình thường
Đây là phản xạ được bắt đầu từ sự căng receptor, phân bố ở ở những vùng đặc biệt ở thành của một vài động mạch lớn. Sự tăng huyết áp làm căng receptor áp suất và gây ra sự dẫn truyền tín hiệu vào hệ thần kinh trung ương.
Các yếu tố điều chỉnh lượng thực phẩm ăn vào cơ thể
Sự điều chỉnh lượng thức ăn ăn vào có thể được chia thành điều chỉnh ngắn hạn, nó quan tâm chủ yếu tới việc hạn chế lượng thức ăn trong một bữa, và điều chỉnh dài hạn, kiểm soát chủ yếu là duy trì số lượng bình thường dự trữ năng lượng trong cơ thể.
Trung tâm hô hấp: điều hòa chức năng hô hấp
Các trung tâm hô hấp bao gồm các nhóm tế bào thần kinh nằm song song hai bên ở hành tủy và cầu não của thân não. Nó được chia thành ba nhóm noron chính.
Điểm nhiệt chuẩn trong điều nhiệt cơ thể
Điểm nhiệt chuẩn tới hạn của vùng dưới đồi, mà ở đó ở dưới mức run cơ và trên mức bắt đầu đổ mồ hôi, được xác định chủ yếu bởi hoạt động của receptor càm nhận nhiệt trong vùng trước thị-trước dưới đồi.
