Đánh giá bệnh thận trước phẫu thuật

Ngày: 2 - 1 - 2016

Nên lọc máu cho những bệnh nhân này trong vòng 24 giờ trước phẫu thuật và nên đo mức điện giair huyết thanh ngay trước phẫu thuật và theo dõi sát trong giai đoạn hậu phẫu.

Mặc dù tỷ lệ tử vong của đại phẫu thuật theo lịch là thấp (1-4%) ở những bệnh nhân suy thận mạn phụ thuộc vào lọc máu nhân tạo, nguy cơ của các biến chứng phẫu thuật, bao gồm tăng kali huyết, viêm phổi, quá tải thế tích và xuất huyết sau phẫu thuật là tăng rõ. Tăng kali huyết sau phẫu thuật cần lọc máu cấp cứu ở 20-30% bệnh nhân, và viêm phổi sau phẫu thuật có thể gặp tới 20% bệnh nhân. Nên lọc máu cho những bệnh nhân này trong vòng 24 giờ trước phẫu thuật và nên đo mức điện giair huyết thanh ngay trước phẫu thuật và theo dõi sát trong giai đoạn hậu phẫu.

Nguy cơ tiến triển giảm rõ rệt chức năng thận, bao gồm cả suy thận cấp cần lọc máu, sau đại phẫu ước tính khoảng 2% đến 20%. Tử vong liên quan với suy thận cấp sau phẫu thuật chung, phẫu thuật mạch máu hoặc tim vượt quá 50%. Các yếu tố nguy cơ liên quan với hủy hoại chức năng thận sau phẫu thuật được nêu ở bảng 1-13. Điều đặc biệt quan trọng là duy trì thể tích lòng mạch thích hợp trong suốt thời kỳ quanh phẫu thuật.

Bảng 1-13. Các yếu tố nguy cơ phát triển suy thận cấp sau phẫu thuật

Phẫu thuật động mạch chủ.

Phẫu thuật tim.

Bệnh mạch máu ngoại vi.

Suy tim nặng

Hoàng đản trước phẫu thuật.

Thiểu năng thận mạn tính trước phẫu thuật.

Tuổi > 70.

Bài xem nhiều nhất

Đánh giá nguy cơ về tim của phẫu thuật

Các thuốc chống đau thắt ngực trước phẫu thuật bao gồm các thuốc chẹn beta, chẹn kênh calci và các nitrat, cần được tiếp tuc dùng trước phẫu thuật và trong thời kỳ hậu phẫu.

Đánh giá trước phẫu thuật bệnh nhân bị bệnh gan

Có một vài dữ liệu về những nguy cơ của phẫu thuật ở những bệnh nhân viêm gan mãn tính. Trong 272 bệnh nhân viêm gan mãn tính trải qua phẫu thuật đối với xuất huyết giãn tĩnh mạch thì tỷ lệ tử vong trong bệnh viện là dưới 2%.

Đánh giá phổi trong phẫu thuật cắt bỏ không ở phổi

Một vài nghiên cứu đã chỉ ra ràng hút thuốc lá đi kèm vơi tăng nguy cơ tiến triển xẹp phổi sau phẫu thuật. Trong một nghiên cứu đơn, hút thuốc làm tăng gấp đôi nguy cơ bị viêm phổi sau phẫu thuật, thậm chí khi kiểm soát được bệnh phổi cơ bản.

Xử trí bệnh nội tiết trước phẫu thuật

Đái tháo đường kiểm soát tốt bằng chế độ ăn. Tránh dùng các dung dịch có chứa glucose trong lúc phẫu thuật. Đo đường máu mỗi 4 đến 6 giờ trong khi đang phẫu thuật.

Đánh giá về huyết học trước phẫu thuật

Yếu tố quan trọng nhất trong việc đánh giá nguy cơ chảy máu là tiền sử chảy máu trưc tiếp. Những bệnh nhân có tiền sử đáng tin cậy và không có những nghi ngờ về chảy máu bất thường trong tiền sử và khám thực thể có rất ít nguy cơ rối loạn chảy máu tiềm ẩn.

Đánh giá bệnh thận trước phẫu thuật

Nên lọc máu cho những bệnh nhân này trong vòng 24 giờ trước phẫu thuật và nên đo mức điện giair huyết thanh ngay trước phẫu thuật và theo dõi sát trong giai đoạn hậu phẫu.

Đánh giá thần kinh trước phẫu thuật

Điều quan trọng ở những bệnh nhân nguy cơ cao là tránh sử dụng các thuốc trong giai đoạn sau phẫu thuật có thể làm tăng nguy cơ tiến triển mê sảng, bao gồm meperidin và hầu hết các benzodiazepin.

Những ảnh hưởng sinh lý của gây mê phẫu thuật

Không có bằng chứng rằng gây tê ngoài màng cứng hoặc tủy sống có ưu thế hơn gây mê toàn thân về mặt cung lượng tim hoặc kết quả phẫu thuật chung. Nhìn chung, lựa chọn kỹ thuật hoặc thuốc là tuỳ vào bác sỹ gây mê.

Đánh giá trước gây mê phẫu thuật trên bệnh nhân không triệu chứng

 Xét nghiệm thường qui trên những bệnh nhân có tiền sử và khám thực thể. Không phát hiện các vấn đề y học rõ ràng bao gồm ghi điện tim ở 12 đạo trình cho nam giới trên 40 tuổi vá phụ nữ trên 50 tuổi.