Tụ máu ngoài và dưới màng cứng

2012-08-12 08:58 PM
Máu tụ dưới màng cứng hình thành giữa màng cứng và màng nhện, Máu tụ ngoài màng cứng là khối máu tụ hình thành ở khoang ảo giữa màng cứng và xương sọ

Có nhiều yếu tố liên quan tới cơ chế bệnh sinh của chấn thương sọ não như yếu tố cơ học, yếu tố động lực học của dịch não tủy, yếu tố huyết quản, yếu tố thần kinh thể dịch và yếu tố xung động thần kinh.

Trước hết phải có một lực chấn thương vào đầu đủ mạnh mới có thể gây tổn thương xương sọ và não. Do vậy tác nhân cơ học được coi là yếu tố cơ bản, là yếu tố “khởi động” cho các quá trình bệnh lý ở não xảy ra.

Trên cơ sở tổn thương não tiên phát (giập não hoặc máu tụ) xảy ra ngay sau chấn thương sẽ dẫn tới tổn thương não thứ phát là do hậu quả của rối loạn vận mạch, rối loạn thần kinh thể dịch... dẫn tới phù não và làm cho áp lực nội sọ tăng cao. Hậu quả tăng áp lực nội sọ dẫn tới tụt kẹt não. Tổn thương não tiên phát và thứ phát làm cho tình trạng bệnh ngày một trầm trọng hơn.

Người ta quan tâm tới 2 cơ chế chấn thương: đầu đứng yên và đầu chuyển động.

Đầu đứng yên: trong trường hợp bị đánh bằng vật cứng vào đầu (bị ném đá, đập gậy...), tổn thương xương sọ và não (giập não hoặc máu tụ...) thường ở ngay dưới chỗ bị đánh và tổn thương thường không phức tạp lắm. Ngoại trừ trường hợp bị đánh vào vùng chẩm gáy BN có thể tử vong ngay sau khi bị thương.

Đầu chuyển động: trong trường hợp bị ngã do tai nạn giao thông hoặc ngã từ trên cao xuống... tổn thương xương sọ và não thường nặng và phức tạp.
Khi ngã, đầu chuyển động tăng tốc (accéleration), khi đầu chạm xuống đường bị chặn đứng lại và giảm tốc đột ngột (déceleration) nên hộp sọ thay đổi và biến dạng tức thì dẫn tới vỡ xương sọ.

Khi tăng tốc và giảm tốc đột ngột làm cho não trong hộp sọ trượt trên các gờ xương đồng thời xoay, xoắn vặn, giằng xé gây tổn thương não nặng nề và phức tạp như giập não lớn, giập thân não, đứt rách các mạch máu...

Trong chấn thương mà đầu chuyển động hay gặp tổn thương đối bên (contre coup), ví dụ: chấn thương vùng đỉnh đầu bên trái, ngay dưới chỗ chấn thương có thể giập não nhưng vùng đỉnh bên phải có thể có máu tụ.

Tụ máu ngoài và dưới màng cứng

Tụ máu ngoài và dưới màng cứng

Bài xem nhiều nhất

Dập não và dập não kèm xuất huyết

Dập não là một tổn thương chủ yếu trong chấn thương não nặng. nếu nhẹ, dập não để lại di chứng về sau như động kinh, Nếu nặng, nó thường kèm theo phần lớn các máu tụ trong sọ

Nhồi máu tiểu não

Nhũn não là do tắc mạch máu não. Thời điểm dễ xẩy ra tắc động mạch não nhất là trong khi ngủ và sáng dậy, khi đang tắm, khi bị mất nước do ra mồ hôi nhiều

Nhồi máu não ổ khuyết cạnh não thất bên phải

Nguyên nhân của nhồi máu nhỏ ở sâu với đường kính dưới 15 mm, ổ khuyết, Thường nằm ở các khu vực sâu trong não: nhân xám trung ương, bao trong

Xuất huyết nhân bèo trái

Các nghiên cứu trước đây cho thấy thể tích xuất huyết não và thang điểm hôn mê Glasgow lúc nhập viện là yếu tố tiên lượng mạnh, Tuy nhiên các yếu tố nguy cơ

Tổn thương phần mềm hộp sọ sau chấn thương

Chấn thương sọ não hở bao gồm tất cả các chấn thương sọ não gây rách màng cứng, khai thông não bộ với bên ngoài, Loại này gây nguy cơ nhiễm khuẩn não cao

Phù não trên hình ảnh CT scaner

Có thể do tăng tính thấm mao mạch, do rối loạn chuyển hóa trong tế bào, rối loạn hoạt động kênh natri phụ thuộc ATP, do Gradien áp lực xuyên màng nội tủy

Nhũn não cũ (tạo hốc dịch teo não)

Nhồi máu não hay nhũn não xảy ra khi một mạch máu bị tắc, nghẽn, khu vực tưới bởi mạch đó bị thiếu máu và hoại tử. Nhồi máu não chiếm khoảng 80 - 85% trong tổng số các bệnh nhân tai biến mạch máu não

Xuất huyết khoang dưới nhện

Khoang dưới nhện là khoang ở mặt ngoài não tủy, nằm giữa màng nhện và màng nuôi, trong đó chứa nước não tủy, Nguyên nhân gây xuất huyết dưới nhện tự phát

Nhũn não động mạch não giữa

Tắc động mạch máu não đại đa phần đều do tăng huyết áp gây nên, cộng với yếu tố động mạch bị xơ cứng khi về già, Tuy nhiên, người huyết áp bình thường

Xuất huyết trong não thất

Xuất huyết trong não thất thường liên quan với máu tụ trong não, xuất huyết dưới màng nhện, máu tụ dưới màng cứng, Các bệnh nhân này thường có phân loại 3 hoặc nặng hơn