Hóa trị liệu bổ trợ cho các vi di căn ung thư nguyên phát

2016-06-07 02:39 PM
Điều trị bổ sung còn đang được nghiên cứu và chưa được chứng minh trong các ung thư hay mắc khác như ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư tuỵ.

Một trong những vai trò quan trọng của hoá tự liệu ung thư là điều trị bổ sung để triệt căn hoặc loại bỏ bệnh còn lại sau khi đá điều trị tại chỗ u ban đầu bằng phẫu thuật và tia xạ. Thất bại của những điều trị ban đầu không loại bỏ được u là do chủ yếu những vi di căn tiềm ẩn của các tế bào u ngoài vị trí ban đầu. Những vi di căn ở xa hầu như kèm theo di căn hoặc lúc phẫu thuật (thí dụ trong ung thư vú), trong những bệnh nhân ung thư có nguy cơ di căn đường máu (như sarcoma tạo xương, u Wilm) và trong những có nguy cơ cao từ bệnh lý hoặc ở mức độ phân tử (thí dụ, chỉ số tăng sinh cao, xâm lấn mạch máu, khuyếch đại gen ung thư). Tuỳ theo các yếu tố nguy cơ riêng, tỷ lệ tái phát và di căn có thể cực kỳ cao (> 80%). Chỉ có duy nhất điều trị hệ thống là phù hợp để ngăn chặn vi di căn. Công thức hoá trị liệu có hiệu quả tạo ra lui bệnh cho ung thư giai đoạn muộn. Có thể làm triệt căn ung thư khi phối hợp với phẫu thuật cho loại ung thư sớm có nguy cơ di căn cao. Những nghiên cứu đầu tiên trong các động vật thực nghiệm chỉ ra rằng hoá trị liệu có thể làm triệt căn một số lượng nhỏ tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật. Trong một số tình huống khác các vi di căn cố thể được loại bỏ mặc dầu chưa triệt căn. Đó là trong trường hợp điều trị kháng estrogen cho ung thư vú.

Hiệu quả của hoá trị liệu bổ sung đạt được trong các ung thư trẻ em, gồm u Wilm, ung thư cơ vân, và ung thư xương. Khi đó, hoá trị liệu bổ sung làm cải thiện rõ rệt tỷ lệ sống thêm, ở người lớn, số liệu đã chứng minh tác dụng của hoá trị liệu bổ sung cho một số ung thư. Các nghiên cứu mới đây đã chứng minh việc kéo dài có ý nghĩa thời gian sống thêm của chị em ung thư vú có hạch nách dương tính hoặc âm tính (giai đoạn I, II và III) bằng cách phối hợp hoá trị liệu với cắt bỏ phẫu thuật. Một số công thức hoá trị liệu phối hợp gồm CA (Cyclophosphamide và Adriamycin, đơn thuần hoặc phối hợp với Fluouracil (CAF) và CMF (Cyclophosphamide, Methotrexate, và Fluouracil), có thể thêm Pretrisolon (CMFP). Các bệnh nhân có hạch âm tính được điều trị bằng CMF hoặc công thức cải tiến, các bệnh nhân có nguy cơ cao, hạch dương tính được điều trị có Adriamycin. Điều trị trước mổ và điều trị trước và sau mổ được dùng trong một số cơ sở và có thể cải thiện được khả năng cắt bỏ hoặc thời gian lui bệnh. Tamoxifen kháng estrogen được dùng thông lệ có hoặc không kèm theo hoá trị liệu trước đó nếu bệnh nhân có thụ thể với estrogen hoặc progesteron. Ở phụ nữ sau mãn kinh có thể dùng Tamoxifen đơn thuần. Thách thức chính trong điều trị ung thư vú hạch âm tính (giai đoạn 1) là việc phân lập yếu tố tiên lượng để xác định những bệnh nhân nào có nguy cơ cao. Từ đó xác định lợi ích của điều trị bổ sung.

Hoá trị liệu bổ sung với Fluorouracil và Levamisol hiện nay được chỉ đinh cho ung thư đại tràng giai đoạn Dukes C (hạch dương tính), đã làm giảm được nguy cơ tái phát ung thư. Các thử nghiệm lâm sàng mới đây gợi ý lợi ích trong điều trị bổ sung cho ung thư trực tràng Dukes B và Dukes C khi phối hợp vối tia xạ, Fluorouracil và Semustine (Methyl CCNU). Điều không may là dùng Semustine làm tăng nguy cơ có bị bệnh bạch cầu và suy thận. Số liệu mới đây cho thấy có thể bỏ Semustine cũng làm tăng tỷ lệ chữa khỏi và làm giảm tái phát u.

Các ung thư khác cũng đáp ứng với điều trị bổ sung gồm sarcoma xương và ung thư buồng trứng. Điều trị bổ sung còn đang được nghiên cứu và chưa được chứng minh trong các ung thư hay mắc khác như ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư tuỵ. Các bệnh nhân Hodgkin và ung thư biểu mô tinh hoàn không cải thiện bởi điều trị bổ sung vì tỷ lệ khỏi sau hoa trị liệu cho giai đoạn muộn và tái phát là thấp, và độc tính làm ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.

Mặc dù điều trị bổ sung làm giảm được tỷ lệ tái phát ở một số ung thư, còn có một tỷ lệ thất bại cao (tới 80% trong ung thư vú có nguy cơ cao mặc dù được dùng hoá trị liệu). Trong hầu hết các trường hợp, tái phát u đồng nghĩa với không thể chữa được. Có bằng chứng rõ ràng về hiệu quả của liều lượng và mức đáp ứng của hóa trị liệu bổ sung. Tuy nhiên liều lượng bị hạn chế bởi nhiễm độc tuỷ xương. Các nghiên cứu hiện nay đang thăm dò khả năng sử dụng hoá trị liệu liều cao với hoặc không kèm theo ghép tuỷ xương tự thân hoặc từ tế bào máu gốc lấy được từ máu ngoại vi được áp dụng bước đầu cho các bệnh nhân ung thư có nguy cơ cao như vú, tinh hoàn và buồng trứng. Các nghiên cứu không ngẫu nhiên gợi ý tác dụng rõ rệt của hoá trị liệu liều cao với tác dụng phụ có thể chấp nhận được trong ung thư vú ở nhóm nguy cơ cao (trên 10 hạch di căn). Một thử nghiệm ngẫu nhiên đa trung tâm đang được xúc tiến để so sánh hoá trị liệu bổ sung tích cực với truyền ghép tuỷ tự thân. Việc sử dụng ghép tuỷ cho ung thư tinh hoàn và buồng trứng muộn còn đang tranh luận, mặc dầu đáp ứng sống lâu của những bệnh nhân là vô vọng. Những bệnh nhân trẻ bị ung thư có nguy cơ cao cần được đưa vào nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng để thăm dò khả năng chữa khỏi của điều trị mạnh mẽ và có tiềm năng đó.

Bài mới nhất

Đường truyền thần kinh thính giác: cơ chế thính giác trung ương

Cường độ âm thanh: xác định bởi hệ thính giác

Tần số âm thanh: định nghĩa nguyên lý vị trí thính giác

Điện thế tai trong: phản ánh nồng độ cao kali và nồng độ thấp natri

Cơ quan Corti: tầm quan trọng trong việc thu nhận âm thanh

Sóng chạy: sự dẫn truyền của sóng âm trong ốc tai

Giải phẫu và chức năng của ốc tai

Dẫn truyền âm thanh từ màng nhĩ đến ốc tai: phối hợp trở kháng bởi xương con

Điều soát kích thước đồng tử của mắt

Tập trung mắt: điều hòa điều tiết mắt

Điều tiết và độ mở của đồng tử: điều hòa tự động thần kinh tự động của mắt

Lác mắt: tổn thương điều hợp của mắt

Thị giác từ hai mắt: hợp nhất các hình ảnh

Chuyển động mắt theo đuổi: chú ý các đối tượng chuyển động

Cử động định hình của mắt: cử động làm cho mắt tập trung

Cử động vận nhãn: thần kinh chi phối cử động của mắt

Vỏ não thị giác sơ cấp: hậu quả của sự loại bỏ vỏ não

Phát hiện mầu sắc bằng tương phản mầu sắc

Quá trình phân tích hình ảnh quan sát: trung khu thần kinh của sự kích thích

Phân tích thông tin thị giác: Con đường vị trí nhanh và chuyển động và Con đường mầu sắc và chi tiết

Vỏ não thị giác: sáu lớp sơ cấp phân khu

Vỏ não thị giác: nguồn gốc và chức năng

Chuẩn độ liều insulin: đường huyết cao ở bệnh nhân Covid-19 và đái tháo đường

Theo dõi đường huyết ở bệnh nhân Covid-19: phương pháp tiếp cận thực tế

Covid-19 và bệnh đái tháo đường: định liều lượng Insulin khi bắt đầu phác đồ Insulin nền-Bolus