Cấp cứu biến chứng tăng Calci máu trong ung thư

Ngày: 8 - 6 - 2016

Triệu chứng của tăng calci máu gồm nôn, buồn nôn, táo bón, đái nhiều, nhược cơ, giảm phản xạ, lẫn lộn, trầm cảm, run rẩy. Một số bệnh nhân không có triệu chứng.

Ung thư là một bệnh mạn tính, nhưng các tình huống cấp cứu có thể xuất hiện như là một biến chứng của xâm lấn tại chỗ (chèn ép tủy, hội chứng tĩnh mạch chủ trên, tràn dịch ác tính v.v) hoặc được sinh ra do các tác động toàn thân (tăng calci máu, nhiễm trùng cơ hội, tăng đông máu, tăng urê máu v.v). Những biến chứng này có thể là biểu hiện của ung thư và cần thiết phải ghi nhận và tìm hiểu kỹ lưỡng.

Nhận định chung

Tăng calci máu thứ phát sau ung thư là một cấp cứu nội khoa thường gặp, xuất hiện trong 10 - 20% bệnh nhân ung thư. Thông thường ở ung thư vú, phổi, thận, đầu cổ, cũng như đa u tủy, mặc dầu đa số ung thư có tăng calci máu liên quan tới di căn xương, nhưng khoảng 20% không có tổn thương xương. Tăng calci máu có thể có nguyên nhân thể dịch, hoặc cũng có thể phá hủy xương trực tiếp, như bàn tới ở đoạn các hội chứng cận ung thư. Mới đây phân lập được protein mới gọi là protein liên quan tới hormon cận giáp trạng (PTHRP) gợi lại trước đây quan niệm về bệnh sinh của tăng calci máu. Đánh giá huỳnh quang miễn dịch đã phân lập được loại peptide này trong máu của khoảng 2/3 bệnh nhân ung thư có tăng calci máu. Nồng độ cao gặp ở các bệnh nhân tăng calci máu trước đây cho là do tiêu xương. PTHRP có thể là chất chỉ điểm u có ích trong các bệnh nhân calci máu bình thường. Thêm nữa kháng thể PTHRP có thể có ích cho điều trị.

Triệu chứng của tăng calci máu gồm: nôn, buồn nôn, táo bón, đái nhiều, nhược cơ, giảm phản xạ, lẫn lộn, trầm cảm, run rẩy. Một số bệnh nhân không có triệu chứng. Ghi điện tim thường cho thấy khoảng QT ngắn. Khi calci máu tăng lên 12mg/dl có thể chẹt đột ngột do ngừng tim hoặc rụng thất. Hiện diện của tăng calci máu không phải luôn luôn là hiện tượng xấu, đặc biệt trong ung thư vú, tiền liệt tuyến và đa u tủy. Không hiện diện triệu chứng tăng calci máu, mà xét nghiệm lại thấy tăng thì cần phải làm xét nghiệm lại để loại trìí khả năng lầm lẫn.

Điều trị cấp cứu

Bù nước

Điều trị cấp cứu gồm truyền nước tích cực 3 - 4 lít/ngày, sau đó cho lợi tiểu bằng furosemide. Điều chủ yếu là bệnh nhân được bù nước trước khi dùng lợi tiểu và bù nước sau khi lợi tiểu. Mặc dù bù nước đơn thuần có thể làm giảm chậm mức calci, nhưng ít khi là điều trị đầy đủ và có thể dẫn đến nguy cơ thừa nước.

Điều trị thuốc

Hiện nay có một số cách chọn lựa để điều trị cấp cứu tăng calci máu được dùng với bù nước tích cực.

Biphosphonates. Thuốc biphosphonate etidronate, có tác dụng làm giảm tiêu xương được dùng đầu tiên bằng đường tiêm tĩnh mạch. Liều dùng 7,5mg/kg trong 2 giờ trong 3 ngày liên tiếp, cần cẩn thận chỉ định cho những bệnh nhân suy thận. Điều trị cấp cứu được nối tiếp theo bằng điều trị uống duy trì (20mg/kg) mỗi ngày cho tới 30 ngày, có thể kéo dài tới 90 ngày nếu thấy đáp ứng. Tuy nhiên hiệu quả kiểm soát liên tục tăng calci máu còn thất thường.

Một phân tử bisphosphanate mới, Pamidronate disodium, đang được áp dụng điều trị tăng calci do ung thư. Pamitronate là một bisphosphonate tiềm năng nhất, được chứng minh có hiệu quả tốt hơn etidronate trong thí nghiệm mù kép ngẫu nhiên. Truyền tĩnh mạch 24 giờ 60 - 90 mg với bù nước thích hợp có thể làm bình thường hoàn toàn mức calci vào ngày thứ 7 trong 70 - 100% bệnh nhân. Tác dụng phụ được báo cáo hay gặp nhất là sốt dai dẳng và phản ứng tại chỗ truyền. Độc tính thấp và hiệu quả cao của thuốc này có thể cải thiện đáng kể việc điều trị tăng calci máu .

Calcilonin. Calcinonin tổng hợp tác dụng ức chế ngay tiêu xương, trong khi đó etidronate cần 3 - 5 ngày để có tác dụng tối đa. Liều thông thường là 4 đơn vị /kg tiêm bắp hoặc tiêm dưới da, 2 lần/ ngày, có thể tăng lên 8 đơn vị trong 12 giờ, sau 1- 2 ngày. Cần thử test da xem có phản ứng quá mẫn khi lần đầu sử dụng thuốc. Calcitonin dùng một mình thường không có hiệu quả làm giảm calci máu nhưng có thể thêm etidronate để làm calci máu về bình thường sau ít ngày. Điều trị nhắc lại calcitonin thường không có hiệu quả và mạch nhanh thường xuất hiện sau điều trị 1 - 3 ngày.

Nilrat gallium. Để điều trị tăng calci máu, nitrate gallium truyền tĩnh mạch liên tục với liều 100 - 200 mg/m2/ngày trong 5 ngày. Trong thử nghiệm ngẫu nhiên mù kép so sánh tác dụng của calcitonin và thuốc mới này. Nitrate gallium tỏ ra có hiệu quả tốt hơn cả về giảm mức calci huyết thanh nhanh và giữ được kết quả lâu sau điều trị xong. Chức năng thận cần được theo dõi cẩn thận.

Các thuốc khác. Prednison có hiệu quả như là một đơn chất điều trị tăng calci máu, nên có thể dùng trong những bệnh có đáp ứng với steroid như đa u tủy.

Tăng calci máu dai dẳng có thể điều trị bằng plicamycin (mithramycin) 25/µg/kg/ngày trong 3 - 4 ngày. Mặc dù luôn thấy có hiệu quả nhưng tác dụng ngắn, và dùng lại sẽ có nguy cơ độc tủy xương, thận, gan một cách không thể bỏ qua.

Điều trị hóa chất

Một khi giai đoạn nguy kịch đã được điều trị, có thể cần nhắc điều trị hóa chất. Bệnh nhân bị ung thư vú có thể phát triển tăng calci máu như là dấu hiệu gắn với đau xương sau khi điều trị kháng estrogen. Những bệnh nhân này sẽ biểu hiện đáp ứng của u rất tốt khi tiếp tục điều trị. Các khối u nhạy cảm với hóa chất hoặc tia xạ có thể đưa tối tăng calci máu, nếu tăng calci mạn tính tồn tại khi điều trị hóa chất, uống etidronate, phosphate, prednisolon liều thấp, tăng cường uống nước cũng có tác dụng, nhưng ít khi tác dụng bền lâu. Khi thuốc biphosphonate mạnh hơn dùng được đường uống, việc điều trị tăng calci máu mạn tính sẽ được cải thiện.

Bài mới nhất
Bài xem nhiều nhất

Các hội chứng cận ung thư (chẩn đoán và điều trị)

Hội chứng cận ung thư thường được cho là do tác động chuyển hóa hoặc nội tiết lạ không liên quan đến tổ chức ung thư. Các dấu hiệu lâm sàng có thể giống với các rối loạn nội tiết, chuyển hóa máu, thần kinh cơ.

Đánh giá đáp ứng điều trị của khối u ung thư

Chụp cộng hưởng từ hiện nay là phương pháp không xâm nhập tốt nhất để đánh giá các u hố sau của não, u tủy sống, chèn ép tủy sống, các bệnh lý chậu hông, nhưng chụp cắt lớp CT cũng hiệu dụng và có thể có các thông tin bổ sung.

Độc tính và thay đổi liều thuốc hóa chất điều trị ung thư

Giảm tiểu cầu cũng là vấn đề khi điều trị hóa chất kéo dài liều cao, và có thể làm hạn chế điều trị. Một số thuốc hiện nay đang nghiên cứu có thể giải quyết vấn đề này.

Một số biến chứng trong ung thư (chẩn đoán và điều trị)

Tràn dịch tái phát có thể điều trị bằng dẫn lưu và gây dính. Tiêm hóa chất hoặc một thuốc gây dính vào khoang tràn dịch kèm lidocain để đỡ đau.

Cấp cứu biến chứng chèn ép tủy sống trong ung thư

Chẩn đoán nhanh chóng và điều trị sớm thương tổn chèn ép tủy là quan trọng. Các thương tổn thần kinh lúc chẩn đoán đa phần là không hồi phục, mặc dù điều trị sớm các triệu chứng thần kinh có thể đạt được hồi phục dần.

Cấp cứu hội chứng Carcinoid ác tính

Các thuốc chống sinh tổng hợp peptide như acetate octreotide là có hiệu quả nhất làm giảm các triệu chứng do hội chứng carcinoid, đồng thời làm giảm đáng kể mức 5HIAA trong nước tiểu.

Cấp cứu biến chứng tăng Calci máu trong ung thư

Triệu chứng của tăng calci máu gồm nôn, buồn nôn, táo bón, đái nhiều, nhược cơ, giảm phản xạ, lẫn lộn, trầm cảm, run rẩy. Một số bệnh nhân không có triệu chứng.

Cấp cứu tăng acid uric máu và bệnh thận urate cấp trong ung thư

Tăng acid uric cấp xuất hiện như là một biến chứng của quá trình tăng sinh ác tính nhanh chóng, hoặc do điều trị làm tan u mạnh trong các ung thư máu như bệnh bạch cầu, u lympho, đa u tủy.

Xếp giai đoạn bệnh ung thư (chẩn đoán và điều trị)

Xếp loại TNM được sử dụng trên lâm sàng để xác định sự lan rộng của bệnh ung thư trước khị bắt đầu điều trị. Phương pháp để tiến hành sắp xếp giai đoạn như bằng khám lâm sàng hay làm giải phẫu bệnh bệnh phẩm lấy được phải được tiến hành cẩn thận.

Tỷ lệ mắc bệnh và nguyên nhân ung thư

Phần lớn các bệnh ung thư ở người lớn được cho là do sự kết hợp của các nhân tố liên quan đến lối sống và do tiếp xúc với môi trường. Các vấn đề về lối sống sẽ được đề cập ở phàn phòng bệnh cấp một.

Phòng bệnh ung thư cấp một

Hoá chất phòng bệnh là một lĩnh vực mới đầy hấp dẫn trong nghiên cứu ung thư, tập trung vào phòng bệnh ung thư bằng sử dụng các chất hoá học can thiệp vào nhiều giai đoạn phát sinh ung thư.

Hóa trị liệu bổ trợ cho các vi di căn ung thư nguyên phát

Điều trị bổ sung còn đang được nghiên cứu và chưa được chứng minh trong các ung thư hay mắc khác như ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư tuỵ.

Điều trị ung thư nguyên phát bằng phẫu thuật và tia xạ

Hiện nay phẫu thuật có hiệu quả cả về chẩn đoán và điều trị, vì nó cho phép đánh giá giai đoạn mô bệnh học của sự phát triển và xâm lấn tại chỗ cũng như khả năng loại bỏ khối u nguyên phát.

Phòng bệnh ung thư cấp hai (phát hiện sớm ung thư)

Đối với hầu hết các bệnh ung thư, giai đoạn lúc phát hiện bệnh có liên quan đến khả năng chữa bệnh, tỉ lệ chữa khỏi bệnh cao nhất khi khối u còn nhỏ và không có dấu hiệu di căn.