Bài giảng khám phản xạ thần kinh

Ngày: 2013-3-20

By member of dieutri.vn

Tư thế như khám phản xạ mỏm trâm quay nhưng người thầy thuốc phải đặt ngón tay lên cơ nhị đầu rồi mới gõ lên ngón tay đó, bình thường gây gấp cẳng tay

Đại cương

Phản xạ là sự  đáp ứng của hệ thần kinh đối với kích thích bên ngoài hoặc bên trong thông qua hệ thần kinh trung ương. Cơ sở của phản xạ là vòng cung  phản xạ gồm nơron cảm giác  và nơron vận động. Có 2 loại phản xạ:

Phản xạ có điều kiện: phản xạ này rất phức tạp và thông qua võ não như Pavlov đã từng mô tả.

Phản xạ không điều kiện: phản xạ này thông qua tủy sống bao gồm phản xạ gân xương và phản xạ da niêm mạc.

Các loại phản xạ

Phản xạ da và niêm mạc

Phản xạ kết mạc mắt ( V1, VII):

Dùng bông gòn vuốt nhọn quẹt vào kết mạc mắt nhưng tránh để bệnh nhân nhìn thấy. Bình thường gây chớp mắt. Nếu chớp mắt nhẹ hay không chớp mắt  là giảm hoặc mất phản xạ, thường do u góc cầu tiểu não hay bệnh lý mỏm xương đá.

Phản xạ hầu họng (IX,X):

Dùng đè lưởi kích thích thành sau họng hai bên, bình thường gây buồn nôn. Khi mất phản xạ này một bên là có tổn thương dây IX,X thường do bệnh lý lỗ rách sau, u nền não. Còn mất phản xạ này hai bên có thể do hystérie hoặc tổn thương thật sự cả 2 bên.

Phản xạ da bụng (D8-9, D10, D11-12):

Bệnh nhân nằm ngữa 2 chân chống lên, dùng kim không nhọn vạch từ ngoài vào trong đối xứng 2 bên trên, ngang và dưới rốn. Bình thường kích thích bên nào thì rốn lệch về phía bên đó hoặc thấy cơ bụng bên đó giật. Giảm hoặc mâït phản xạ này gặp trong tổn thương tháp  hay tổn thương rễ thần kinh D8-12. Khó đánh giá khi bụng nhẻo, quá mập và bụng báng quá căng lúc đó phản xạ này có thể mất  nhưng không có ý nghĩa bệnh lý.

Phản xạ da bìu(D12-L2):

Bệnh nhân nằm ngữa 2 chân chống lên hơi ngữa ra ngoài dùng kim vạch từ dưới lên trên ở 1/3 mặt trên trong của đùi. Bình thường kích thích bên nào thì tinh hoàn bên đó nâng lên. Nếu không nâng lên hay nâng lên yếu là có tổn thương tháp.


Vùng và hướng kích thích khi khám phản xạ da bụng, bìu.

Phản xạ da lòng bàn chân(L5-S2):

Bệnh nhân nằm 2 chân duổi thẳng dùng kim vạch dọc bờ ngoài lòng bàn chân từ gót đến hết nếp gấp lòng bàn chân một cách từ từ. Bình thường tất cả các ngón gấp xuống. Khi kích thích như vậy nếu ngón cái duỗi ra từ từ.

Phản xạ da lòng bàn chân bình thường - Các ngón chân gấp xuống


Dấu hiệu Babinski (+) - Ngón chân cái duỗi ra

Các ngón khác xòe ra như nan quạt đó là dấu Babinski(+) gặp trong tổn thương tháp. Nên chú ý những trường hợp Babinski (+) giả sau đây:

Ngón cái cụp xuống trước rồi mới duỗi ra sau.

Kích thích quá mạnh làm rụt chân đột ngột nên ngón cái  như duỗi ra.

Trong một số trường hợp viêm tủy xám vùng thắt lưng cùng chỉ tổn thương nhóm cơ gấp các ngón chân nên khi kích thích thì chỉ còn lại các cơ duỗi hoạt động vì thế ngón cái duỗi ra nhưng khi bảo bệnh nhân gấp ngón chân thì không làm được.

Sau khi Babinski phát hiện dấu duỗi ngón chân cái thì một số tác giả khác kích thích nơi khác nhau ở chân  nếu có duỗi ngón chân cái gọi là dấu tương đương (+):

Dấu hiệu Oppenheimn là vuốt dọc xương chày từ trên xuống dưới.

Dấu hiệu Gordon là bóp vào cơ dép.

Dấu hiệu Schaeffer là bóp vào gân gót.

Dấu hiệu Chadock là vạch dưới mắt cá ngoài.

Dấu hiệu Meige là vạch ở gan bàn chân phía trong từ sau ra trước.

Dấu hiệu bật ngược ngón chân giữa lên.


Dấu hiệu Oppenheimn (+).

Phản xạ hậu môn(S4-5):

Bệnh nhân nằm ngữa dơ hai chân lên hay tư thế gối ngực. Kích thích da quanh hậu môn hai bên bình thường gây co rúm hậu môn. Giảm hay mất phản xạ này là do tổn thương tháp hay chóp cùng đuôi ngựa.

Phản xạ gân xương

Dùng búa phản xạ có trọng lượng đã quy định tránh dùng ống nghe hay tay không. Phải gõ đối xứng  với cường độ đều nhau (Dùng trọng lượng búa là chính). Không được lên gân.

Phản xạ gân xương chi trên:

Phản xạ mỏm trâm quay (C5,6,7,8): Nằm ngữa, cẳng tay hơi gấp để lên bụng hay ngồi giơ tay ra trước hơi gấp, người thầy thuốc nắm lấy các ngón tay của bệnh nhân nhẹ nhàng rồi dùng búa gõ vào mỏm trâm quay, bình thường gây gấp cẳng tay do co cơ ngữa dài.


Khám phản xạ mỏm trâm quay.

Phản xạ gân cơ nhị đầu (C5,6): Tư thế như khám phản xạ mỏm trâm quay nhưng người thầy thuốc phải đặt ngón tay lên cơ nhị đầu rồi mới gõ lên ngón tay đó, bình thường gây gấp cẳng tay hay có cảm giác giật dưới ngón tay.


Khám phản xạ gân cơ nhị đầu.

Phản xạ gân cơ tam đầu(C6,7): Bệnh nhân nằm ngữa để cẳng tay vuông góc với cánh tay  hay ngồi (đứng) giơ cánh tay ra ngang cẳng tay để thỏng rồi dùng búa gõ vào gân cơ tam đầu bình thường gây duổi cẳng tay.


Khám phản xạ gân cơ tam đầu.

Phản xạ gân xương chi dưới:

Phản xạ gân gối (L2-4): Bệnh nhân nằm ngữa luồn tay dưới kheo chân bệnh nhân hơi nâng nhẹ lên hay tốt nhất là ngồi thỏng 2 chân không chạm đất, dùng búa gõ vào gân gối bình thường gây duỗi cẳng chân.

Khám phản xạ gân gối ở tư thế nằm.

Khám phản xạ gân gối ở tư thế ngồi.

Phản xạ gân gót (S1): Bệnh nhân nằm ngữa, đặt cẳng chân bên này lên cẳng chân bên kia, thầy thuốc nắm lấy bàn chân đặt lên tạo một góc vuông với cẳng chân  hay tốt nhất là quỳ giơ 2 cẳng chân ra khỏi mặt ghế (giường) rồi dùng búa gõ vào gân gót bình thường gây gấp bàn chân.


Khám phản xạ gân gót.

Thay đổi bệnh lý của phản xạ gân xương:

Tăng phản xạ: Tăng phản xạ là giật đoạn chi mạnh, đột ngột, biên độ rộng. Có những mức độ tăng hơn như sau:

Phản xạ lan truyền: Gõ ngoài vùng gây phản xạ vẫn gây phản xạ.

Phản xạ đa động:Gõ một lần giật 3-4 lần.

Rung giật bàn chân và xương bánh chè: Bệnh nhân nằm ngữa thầy thuốc nắm lấy bàn chân đẩy lên rồi giữ nguyên tư thế đó hay nắm lấy xương bánh chè đẩy xuống nhanh rồi giữ nguyên tư thế đó. Nếu bàn chân hay xương bánh chè tự đưa lên đưa xuống là (+) và nếu giật chỉ vài cái rồi hết mặc dù còn kích thích là rung giật giả còn rung giật mải cho tới khi nào thầy thuốc thả tay ra mới hết là rung giật thật.

Tăng phản xạ gân xương gặp trong liệt cứng (tổn thương tháp).

Giảm hoặc mất phản xạ gân xương: Giảm là khi cơ giật yếu nên không thấy gấp hay duỗi đoạn chi. Mất phản xạ là khi không thấy cơ giật. Khi thấy phản xạ giảm hoặc mất lúc khám tư thế thông thường thì phải khám tư thế tốt nhất. Nếu không thấy đáp ứng thì phải dùng nghiệm pháp Jendrassick (chỉ cho chi dưới) cụ thể như sau bệnh nhân ở tư thế tốt nhất rồi bảo họ móc hai tay lại và kéo mạnh ra, đồng thời lúc đó thầy thuốc gõ vào gân gối hay gân gót nếu không thấy đáp ứng, như vậy là mất phản xạ gân xương. Lúc đó cần khám  phản xạ bản thân cơ để xác định mất phản xạ do cơ hay do thần kinh. Nếu phản xạ bản thân cơ còn là do tổn thương thần kinh, còn nếu phản xạ bản thân cơ mất là do bệnh cơ  hay do hạ K+ máu  Giảm hay mất phản xạ gân xương là do tổn thương thần kinh ngoại biên hay tổn thương tháp giai đoạn liệt mềm hoặc là do bệnh cơ, do rối loạn một số chất điện giải.

Nghiệm pháp Jendrassick.

Phản xạ đảo ngược:

Chi giật ngược lại với đáp ứng thường quy, có giá trị như giảm hay mất phản xạ.

Phản xạ chống đở (phản xạ bo co, phản xạ tự động tủy):

Thường gặp ở chi dưới. Khi kích (véo da, châm kim) ở chân thì bàn chân co vào cẳng chân, cẳng chân co vào đùi và đùi co vào bụng. Gặp trong bệnh lý chèn ép tủy từ từ hay giai đoạn muộn của viêm tủy cắt ngang. Ngoài ra còn có giá trị chẩn đoán vị trí tổn thương nếu kích thích từ dưới lên trên đến chổ nào hết xuất hiện 3 co tức là giới hạn dưới của tổn thương tủy.