Đại cương về chết ngạt

Ngày: 28 - 3 - 2013

Máu có đủ oxygen nhưng hô hấp tế bào không thu nhận được chúng gặp trong trường hợp ngộ độc acid xyanhydric (HCN) và một số chất khác.


Định nghĩa

Ngạt là hiện tượng ngừng cung cấp oxygen và thừa khí carbonic trong cơ thể.

Ngạt có thể xảy ra nhanh chóng hoặc từ từ và sẽ gây chết nếu nguyên nhân gây nên ngạt không bị loại bỏ.

Bình thường máu trong động mạch gần bão hòa hết oxygen chỉ còn 5% lượng hemoglobin là không bão hòa. Máu trong tĩnh mạch có lượng lớn hemoglobin không bão hòa oxygen chiếm 30%. Mao mạch là trung gian giữa động mạch và tĩnh mạch thì lượng hemoglobin không bão hòa oxygen tại đây là trị số trung bình 17,5% . Tím tái xuất hiện khi lượng hemoglobin khử oxygen tại mao mạch lên đến 30 - 35%. Màu xanh tím trong chết ngạt tươi hơn các trường hợp tím tái do ngộ độc.

Ðối với các tổ chức biệt hóa cao như não, tim...  nhu cầu oxygen của tế bào rất lớn, vì nếu thiếu oxygen  chúng bị tổn thương sớm nhất.

Ngừng cung cấp oxygen thừa khí carbonic trong cơ thể thấy dưới dạng: Máu thiếu oxygen thực sự nên không đủ cung cấp oxygen cho tế bào đó là những nguyên nhân lấp đường thở. Máu có đủ oxygen nhưng hô hấp tế bào không thu nhận được chúng gặp trong trường hợp ngộ độc acid xyanhydric (HCN) và một số chất khác.

Phân loại nguyên nhân chết ngạt

Ngạt hoàn toàn

Gặp trong trường hợp treo cổ, chẹn cổ, chết trong chất lỏng, ngộ độc các loại khí oxide carbon (CO), khí carbonic (CO2)... 

Ngạt không hoàn toàn

Gặp trong các trường hợp dị vật đường thở như viên thuốc, hạt ngô, răng giả...  trong khí quản hoặc đường hô hấp ngoài bị cản trở do bịt mũi miệng, trùm chăn kín, ở trong phòng kín không khí không lưu thông. Trong các trường hợp đó khí oxygen giảm, khí carbonic tăng. Ngạt không hoàn toàn có thể chuyển thành ngạt hoàn toàn nếu nguyên nhân gây ngạt không được loại bỏ.

Ngạt hoàn toàn và không hoàn toàn còn gặp trong một số trường hợp bệnh lý như: Phế viêm, phù phổi cấp, bạch hầu thanh quản, khối u chèn ép đường thở...

Triệu chứng lâm sàng

Bình thường trong không khí, khí oxygen chiếm  20,96% , khí carbonic chiếm  0,04%... Thực nghiệm ngạt cho thấy khi oxygen trong phòng kín hoàn toàn, giảm 12 - 14% và khí carbonic lên tới 6-8%, thì xuất hiện các triệu chứng: Nhức đầu, thở nhanh, huyết áp tăng... Khi oxygen còn 8% và carbonic lên 12% thì chết. Nếu đường thở lấp hoàn toàn triệu chứng xảy ra 4 giai đoạn:

Giai đoạn I (khoảng 1 phút): Thở sâu và nhanh, tiếp đó là khó thở, nhịp tim tăng và bất tỉnh.

Giai đoạn II (Khoảng 2-3 phút): Khó thở ra, nhịp tim tăng, mất các phản xạ, co giật toàn thân, co bóp cơ trơn gây ỉa đái, xuất tinh...

Giai đoạn III (khoảng 1 phút): Nhịp thở lúc nhanh, lúc chậm, huyết áp giảm do trung tâm hô hấp bị ức chế bởi nồng độ carbonic quá cao trong cơ thể.

Giai đoạn IV (Khoảng 30 giây): Các trung tâm hô hấp và vận mạch bị  ức chế sâu do nồng độ carbonic  quá cao, làm tim loạn nhịp rồi thưa dần, huyết áp giảm rõ rệt, mất các phản xạ, đồng tử giãn, cơ mềm, thở ngáp rồi ngừng thở.

Như vậy tổng cộng thời gian sức chịu đựng ngạt không quá 5 phút. Tuy nhiên có nhiều trường hợp chịu đựng tới 10 phút hoặc hơn, đó là những người có rèn luyện tốt như thợ lặn, vận động viên bơi lội, vận động viên chạy marathon...   

Những dấu hiệu trên tử thi

Tổn thương tổ chức, tế bào trong chết ngạt không có hình ảnh đặc thù mà chỉ có những dấu hiệu chung cho mọi tác nhân gây ngạt.

Dấu hiệu bên ngoài

Xung huyết giác mạc, da mặt, cổ, môi. Hoen tử thi xuất hiện sớm lan rộng sau 30 phút, sự cứng xác nhanh và ngắn, sự hư thối xảy ra sớm.

Dấu hiệu bên trong

Các phủ tạng có các chấm chảy máu rải rác ở thanh mạc, thượng tâm mạc, trong não, đôi khi cả tuyến thượng thận. 

Phổi phồng lớn màu tím thẫm bị ứ máu, ở mặt ngoài có những đám khí và chấm xuất huyết (Tardieu) có khi tạo thành mảng, có bọt khí lẫn máu trong khí quản, phế quản.

Các phủ tạng xung huyết nhưng màu sắc còn phụ thuộc vào nguyên nhân gây ngạt. Nếu ngạt do thiếu oxygen và thừa carbonic thì có màu đỏ sẫm. Nếu ngạt do tế bào không tiếp nhận được oxygen nhưng oxygen trong máu vẫn đầy đủ  thì màu phủ  tạng đỏ cánh sen gặp trong các trường hợp ngộ độc chlorate, oxide carbon, acid xyanhydric..

Bên cạnh những dấu hiệu chung cần tìm các tổn thương đặc thù của từng loại nguyên nhân gây ngạt: Chết treo, bóp cổ, chết trong chất lỏng.


Bài xem nhiều nhất

Chết treo cổ trong y pháp

Rãnh treo là dấu hiệu đặc thù để xác định chết treo, vì thế khi khám nghiệm cần quan sát và mô tả kỹ về hình dáng, màu sắc, kích thước, vị trí, tính chất và đặc điểm của rãnh treo.

Tử thi học y pháp

Người ta xác định được rằng sau khi chết, nước ở tử thi sẽ mất dần qua bốc hơi ở bề mặt tử thi, khiến trọng lượng của tử thi giảm đi. Trung bình trọng lượng giảm 1kg mỗi ngày.

Y pháp chấn thương

Tất cả những tổn thương ở phần cứng và phần mềm đều do các vật gây nên. Mỗi loại vật tác dụng trên cơ thể tạo nên những tổn thương có đặc điểm riêng của nó, chính những đặc điểm này giúp cho giám định viên phán đoán được loại hung khí gây nên.

Cưỡng dâm hiếp dâm hãm dâm và y pháp sinh dục

Người bị hiếp dâm có thể xảy ra khi đang làm việc bình thường, đang ngủ, say rượu, gây mê chưa tỉnh, bị thôi miên hoặc mắc bệnh rối loạn tâm thần.

Y pháp độc chất

Trong cuộc sống hàng ngày xung quanh chúng ta có rất nhiều những chất gây độc, từ cây cỏ tự nhiên đến các sản phẩm hóa học, hóa dược, nên người ta thường dễ kiếm, dễ sử dụng và tình trạng trúng độc ngày càng tăng.

Chết trong chất lỏng

Các trường hợp đặc biệt như chết trong bể nước, chum vại gặp trường hợp những người đang thiếu máu hoặc trẻ em. Chết trên vũng nước gặp ở người động kinh khi lên cơn ngã úp xuống vũng nước.

Chết ngạt do oxide carbon

Như vậy nếu nồng độ oxide carbon là 0,07% thì tất cả hemoglobin sẽ bất động và dẫn đến ngộ độc oxide carbon. Nếu nồng độ oxide carbon thấp hơn 0,07% thì chỉ một phần hemoglobin bất động và gây nên ngộ độc nhẹ hoặc kinh niên.

Đại cương về chết ngạt

Máu có đủ oxygen nhưng hô hấp tế bào không thu nhận được chúng gặp trong trường hợp ngộ độc acid xyanhydric (HCN) và một số chất khác.

Chết chẹn cổ trong y pháp

Cơ chế chết do chẹn cổ tương tự như chết trong treo cổ là chèn ép khí quản, chèn ép mạch máu và phản xạ ức chế. Nhưng trong chẹn cổ vì có sự chống đỡ của nạn nhân nên các cơ chế xảy ra không hoàn toàn và do đó rất phức tạp.

Y pháp thương tích do hỏa khí

Ðể có thể giải đáp được những thương tích và dấu vết do hỏa khí để lại, giám  định viên cần vận dụng thêm những kiến thức về toán học, vật lý, hóa học, hóa học y pháp (hóa pháp) trong công tác giám định.