Phương thuốc quý trị ho được lưu truyền hơn 300 năm (Xuyên bối tỳ bà cao)

Ngày: 5 - 4 - 2013

Bài thuốc mà vị thần y sử dụng có tên là Xuyên bối tỳ bà cao, do có 2 vị thuốc chính yếu là Xuyên bối mẫu và tỳ bà diệp, kết hợp cùng hơn chục vị thuốc khác.


Hơn 300 năm trước, vào triều đại nhà Thanh - Trung Hoa, dân gian còn truyền nhau câu chuyện cảm động về một vị quan đã hết lòng tìm cách chữa bệnh cho mẹ.

Một lần, phụ mẫu cuả ông mắc bệnh lạ. Bà ho ròng rã nhiều ngày không khỏi, mặc cho vị quan vời biết bao danh y, tìm kiếm biết bao phương thuốc quý. Bà lão mỗi ngày một gầy yếu, xanh xao. Tính mệnh chỉ như ngọn đèn dầu trước gió. Thương mẹ, vị quan khóc lóc thảm thiết, tự trách mình đã bất lực trước cảnh nguy nan.

Tấm lòng hiếu thảo của vị quan nức tiếng gần xa, lan truyền đến vị thần y ở vùng núi cao nọ. Cảm kích tấm lòng hiếu thảo của vị quan huyện và xót thương tình cảnh hai mẹ con, vị thần y đã đích thân tìm đến, mong được cứu giúp. Vị thần y đã dùng các thảo mộc thu hái từ vùng núi cao ông sinh sống, sắc thành cao cho bà lão uống. Bà lão kiên trì uống thuốc. Quả nhiên khỏi bệnh, da dẻ hồng hào, tươi nhuận. Bà và con trai vô cùng mừng rỡ, cảm phục tài năng và ơn cứu mạng của thần y. Về phần mình, vị thần y xem việc cứu người như niềm vui của mình.

Cắt nghĩa về bệnh tình của bà lão, ông nói: bà cụ gầy yếu, ho lâu ngày là bệnh thuộc chứng hư. Khí hư uất kết trong người sinh ra đờm tụ ở phế, lại gặp khí nghịch lên mà gây thành ho, lâu ngày khiến phế ung, lại sinh đờm đặc, nên bệnh cứ luẩn quẩn. Trị bệnh này không khó, chỉ cần phối hợp các thảo mộc có tác dụng thanh phế, làm tan được đờm tụ, trừ được nhiệt độc, hóa đàm, chỉ khái, cùng với các vị thuốc bồi bổ tỳ, vị, nhuận phế khí nhanh chóng lấy lại sinh lực, bệnh tình tự tiêu tán…

Bài thuốc mà vị thần y sử dụng có tên là Xuyên bối tỳ bà cao, do có 2 vị thuốc chính yếu là Xuyên bối mẫu và tỳ bà diệp, kết hợp cùng hơn chục vị thuốc khác. Sau đó, đã được lưu truyền khắp dân gian để trị ho, cứu chữa cho không biết bao người. Bài thuốc được lưu truyền qua hàng trăm năm lịch sử. Khi KHKT phát triển, bài thuốc khẳng định thêm công hiệu qua các nghiên cứu y học hiện đại. Do vậy, được đưa vào Dược điển, trở thành bài thuốc chính thống. Từ đó làm cơ sở cho nhiều công ty dược phát triển thành các sản phẩm thuốc trị ho phục vụ nhân dân.

Sự kết hợp các thảo mộc trong phương Xuyên bối tỳ bà cao

Xuyên bối tỳ bà cao kết hợp 15 vị thảo mộc, theo nguyên lý trị bệnh của y học cổ truyền. Trong đó, mỗi vị đều có một tác dụng riêng, nhưng khi phối hợp với nhau thì cùng hiệp đồng tác dụng, hỗ trợ nhau, để làm mạnh công năng chính của bài thuốc. Đó là trừ ho, bổ phế, hóa đàm. Đồng thời, kiềm chế được những tác dụng bất lợi, mang lại sự an toàn cho người bệnh.

Xét theo vai trò của các vị thuốc, có thể xem bố cục bài thuốc như thứ bậc quan trọng trong triều đình, gọi là Quân – Thần – Tá – Sứ, giúp việc trị bệnh cũng như trị nước có tôn ti, trật tự, có sự gánh vác, bổ trợ lẫn nhau, mang lại hiệu quả như mong đợi.

Xuyên bối mẫu là vị thuốc được lấy để đặt tên cho bài thuốc (chữ “Xuyên bối” trong Xuyên bối tỳ bà cao), có dược tính mạnh, đóng vai trò chính yếu nhất, gọi là vị Quân, tương tự như Vua của triều đình. Vị này đắng, tính bình, dưỡng âm, thanh phế, làm tan được đờm tụ, trừ được nhiệt độc, hóa đàm, chỉ khái, trị được các chứng phế ung, phế suy, ho lâu ngày, đờm đặc tanh hôi…

Bổ trợ cho Vua (Quân) là các vị Thần, có dược tính tương đối mạnh. Như Tỳ bà diệp, Sa sâm vị hơi đắng, tính bình, giúp thanh phế, hóa đàm, chỉ khái. Cát cánh, bán hạ vị cay, tính ấm, giúp hóa đàm, trục đàm công hiệu.

Các vị Tá, mỗi vị một vai trò riêng, hỗ trợ đắc lực cho công cuộc trị bệnh của Quân và Thần cũng như của toàn bài thuốc như: Phục linh và Ngũ vị tử bồi bổ tỳ vị, là các tạng sinh đờm. Điều hóa hoạt động của tỳ vị sẽ hạn chế được đờm tích tụ tại phế, giúp nhuận phế, hóa đàm. Phục linh còn là vị thuốc lợi thủy, thẩm thấp, nhờ bổ thận âm mà chữa được chứng phế âm hư, tránh được nguy cơ trào nhiệt gây ho khan, phù hợp quan điểm thận thông thì phế thông.

Một số vị thuốc có hoạt tính kháng khuẩn, bảo vệ đường hô hấp khỏi viêm nhiễm như trần bì, gừng tươi, bạc hà. Trong đó, trần bì có thêm tác dụng hóa đàm, gừng tươi tính ấm giúp điều hòa tính vị, và bạc hà có vị cay mát, dễ chịu. Qua lâu nhân chứa nhiều chất dầu, giúp nhuận tràng, thông táo, giúp khí ở đại tràng lưu thông, tránh được khí nghịch lên mà gây thành ho. Viễn chí kích thích nhẹ niêm mạc hầu họng, bài tiết niêm dịch, giúp long đờm rất tốt. Khổ hạnh nhân lại trấn tĩnh nhẹ trung khu hô hấp giúp kiềm chế ho hiệu quả. Nói chung, sự có mặt các vị thần vừa làm mạnh thêm công năng chính vừa tạo ra nhiều tác dụng phong phú cho bài thuốc.

Cam thảo là vị Sứ do có tác dụng dẫn thuốc, làm cho các vị thuốc khác dễ hấp thu vào cơ thể, lại điều vị, giúp người bệnh dễ uống. Đây còn là vị thuốc long đờm, giảm ho hiệu quả.

Sự kết hợp Xuyên bối tỳ bà cao với kinh nghiệm dân gian Việt Nam

Khi du nhập vào Việt Nam, Xuyên bối tỳ bà cao đã được các thầy thuốc đông y Việt Nam gia giảm thêm các vị thuốc sao cho phù hợp với đặc điểm khí hậu, sinh học con người và kinh nghiệm trị bệnh ở Việt Nam. Trong đó, đáng kể nhất là việc gia thêm hai vị thuốc dân gian ô mai và mật ong đã làm mạnh thêm công hiệu bổ phế, trừ ho, hóa đàm. Theo đông y, ô mai kích thích sinh tân dịch, liễm phế. Hải Thượng Lãn Ông quy ô mai vào bổ kim. Trong ngũ hành, phế thuộc kim. Vì vậy, ô mai sử dụng trong các chứng bệnh ở phế là đúng theo phương pháp biện chứng luận trị của đông y. Còn mật ong là phương thuốc được sử dụng từ hàng ngàn năm trước với nhiều công dụng như bồi dưỡng cơ thể, giúp ăn ngon, ngủ tốt, trừ ho, kháng khuẩn, mau lành vết thương…Hải Thượng Lãn Ông sử dụng mật ong trong nhiều phương thuốc chữa ho, có cả chữa ho lao, gọi là Cam lộ thần cao.

Sự kết hợp ô mai, mật ong và bài thuốc Xuyên bối tỳ bà cao, cùng với qui trình bào chế hiện đại đã tạo ra thuốc ho Bảo Thanh, có đồng thời cả ba công năng Bổ phế, trừ ho, hóa đàm. Điều trị hiệu quả các chứng ho: ho khan, ho có đờm, ho do lạnh, ho do nhiệt, các trường hợp phế âm hư, gây ho dai dẳng lâu ngày, miệng họng khô, cổ họng ngứa, nóng rát… Sản phẩm được người tiêu dùng bình chọn là sản phẩm tin dùng trong dòng sản phẩm thuốc ho đông được và đã được trao tặng giải thưởng Tự hào thương hiệu Việt.

Dược sỹ. Thu Trang

 


Bài xem nhiều nhất

CÁCH NÀO LÀM GIẢM NGỨA HỌNG VÀ HO HIỆU QUẢ?

Ngứa rát họng thường là kích thích đầu tiên tại cổ họng, có thể làm phát sinh triệu chứng tiếp theo là ho. Để ngăn chặn cơn ho xuất hiện, thì ngay khi có dấu hiệu ngứa họng, phải có biện pháp nhanh chóng làm dịu kích thích này.

LÀM DỊU HỌNG NGAY KHI BỊ NGỨA HỌNG

Ngứa họng là triệu chứng kích thích ở họng, xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau. Có thể thấy ngứa họng xuất hiện trong các bệnh lý viêm đường hô hấp như: viêm họng, viêm khí phế quản, viêm mũi xoang...

GIẢM NGỨA HỌNG VÀ HO DO THỜI TIẾT

Vùng họng là nơi nhạy cảm, dễ bị kích thích bên ngoài tác động. Hiện tượng kích ứng vùng họng hay gặp nhất là ngứa họng, ho, khản tiếng...Ngứa họng là cảm giác khó chịu đầu tiên tại vùng họng khi có kích thích.

Ngừng tuần hoàn

Mục đích của hồi sinh tim - phổi là cung cấp tạm thời tuần hoàn và hô hấp nhân tạo, qua đó tạo điều kiện phục hồi tuần hoàn và hô hấp tự nhiên có hiệu qủa.

Cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất

Cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất ( gọi tắt là tim nhanh trên thất - TNTT ) là một thuật ngữ rộng bao hàm nhiều loại rối loạn nhịp nhanh có cơ chế và nguồn gốc khác nhau.

Thăm dò thông khí phổi và khí máu động mạch

Đánh giá chức năng phổi của bệnh nhân trước khi mổ phổi (Ung thư phế quản, áp xe phổi, giãn phế quản, các can thiệp tim mạch, ổ bụng).

Sử dụng hiệu quả insulin điều trị đái tháo đường

Tất cả các bệnh nhân ĐTĐ có thể trở nên cần điều trị bằng insulin một cách tạm thời hoặc vĩnh viễn khi tụy không tiết đủ lượng insulin cần thiết.

Thở ô xy

Thở oxy hay liệu pháp thở oxy là cho bệnh nhân khí thở vào có nồng độ oxy cao hơn nồng độ oxy khí trời (FiO­­2 > 21%).

Xử trí tăng Kali máu

Các triệu chứng tim mạch: rối loạn nhịp nhanh. ngừng tim; chúng thường xảy ra khi tăng kali máu quá nhanh hoặc tăng kali máu kèm với hạ natri máu, hạ magne máu, hay hạ calci máu.

Đại cương về suy thận mạn tính

Nguyên nhân suy thận mạn tính có nhiều loại khác nhau,thường do một trong số các nguyên nhân bao gồm bệnh cầu thận, bệnh ống kẽ thận, bệnh mạch máu thận, bệnh bẩm sinh và di truyền.

Thông khí nhân tạo và chỉ định (thở máy)

Thông khí nhân tạo có thể thay thế một phần hoặc thay hoàn toàn nhịp tự thở của bệnh nhân.

Quy trình kỹ thuật thở ô xy

Tất cả các bệnh nhân thở Oxy phải làm ẩm khộng khí thở vào để đảm bảo tối ưu chức năng của nhung mao tiết nhầy đường hô hấp, đồng thời đảm bảo độ ấm.

Hội chứng cai rượu cấp

Sau khi ngưng rượu, sự giảm điều hoà receptor hệ GABA tham gia gây ra rất nhiều triệu chứng của hội chứng cai. Ngộ độc rượu mạn cũng ức chế hoạt động dẫn truyền thần kinh glutamate.

Theo dõi và chăm sóc bệnh nhân thở máy

Theo dõi bệnh nhân thở máy cần được theo dõi toàn diện, kết hợp giữa theo dõi các dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng, cũng như theo dõi sát các thông số trên máy thở, trên monitor theo dõi.

Chăm sóc bệnh nhân hôn mê

Hôn mê là tình trạng mất ý thức và mất sự thức tỉnh, không hồi phục lại hoàn toàn khi được kích thích.

Các phác đồ kiểm soát đường huyết trong hồi sức cấp cứu

Tiêm tĩnh mạch insulin loại tác dụng nhanh khi kết quả xét nghiệm đường huyết mao mạch >11 mmol/L. Liều bắt đầu là 5 hoặc 10 đơn vị.

Thấp tim

Thấp tim (thấp khớp cấp) là một bệnh viêm dị ứng xảy ra sau nhiễm liên cầu khuẩn tan huyết β nhóm A gây nên, bệnh tổn thương ở hệ thống tổ chức liên kết theo cơ chế miễn dịch dị ứng, gây tổn thương nhiều cơ quan

Chăm sóc bệnh nhân tai biến mạch não

Tai biến mạch não là dấu hiệu phát triển nhanh chóng trên lâm sàng của một rối loạn khu trú chức năng của não kéo dài trên 24giờ và th­ường do nguyên nhân mạch não.

Sinh lý kinh nguyệt

Kinh nguyệt là hiện tượng chảy máu có tính chất chu kỳ hàng tháng từ tử cung ra ngoài do bong niêm mạc tử cung dưới ảnh hưởng của sự tụt đột ngột Estrogen hoặc Estrogen và Progesteron trong cơ thể.

Block nhánh

Bloc nhánh là 1 hình ảnh điện tâm đồ do những rối loạn dẫn truyền xung động trong các nhánh bó His gây ra.

Chức năng đầy đủ của gan

Gan có nhiều vai trò thiết yếu trong việc giữ cho chúng ta sống.

Hậu sản thường

Sau khi sổ rau, tử cung co chắc thành khối an toàn, trọng lượng tử cung lúc đó nặng khoảng 1.000g, sau 1 tuần, tử cung còn nặng khoảng 500g, cuối tuần lễ thứ 2 còn khoảng 300g, các ngày sau đó nặng 100g.

Hội chứng HELLP

Có thể cho tới 4 -6 g IV bolus / 20 min, truyền TM 1 -3 g/h. Thận trọng nếu suy thận. Với liều khuyến cáo không có nguy hiểm cho mẹ và thai. Hiệu quả tốt hơn dizepam và phenytoin.

Co giật và động kinh

Co giật cũng được phân loại là cục bộ hoặc toàn thân dựa trên mức độ ảnh hưởng lên giải phẫu thần kinh hoặc được phân loại là đơn giản hay phức tạp dựa trên ảnh hưởng của co giật lên tình trạng ý thức.

Quy trình kỹ thuật khí dung thuốc

Khí dung trị liệu có thể được cụng cấp bằng bình phun thể tích nhỏ (SVN Small-Volume-Nebulizer) hoặc ống hít có phân liều (MDI Metered-Dose-Inhaler).

 

Xem theo danh mục