Hướng dẫn tiến hành thông khí nhân tạo (cơ học)

Ngày: 19 - 6 - 2012

Đánh giá BN về tổng trạng, về cơ quan hô hấp, về khí máu động mạch nhằm phân loại nhóm SHHC cần TKCH và thực hiện các bước TKCH tiếp theo.


Tiến hành thông khí cơ học (TKCH) là công việc hàng ngày của bác sĩ HSCC. Khi có chỉ định TKCH (thở máy) cần tiến hành lần lượt các bước như sau:

Đánh giá bệnh nhân

Tổng trạng

APACHE II (Acute Physiology And Chronic Health Evaluation).

Tiền sử bệnh.

Cơ quan hô hấp

Có hay không có tổn thương tại phổi?

Ngưng thở hoàn toàn hay còn tự thở ? Tự thở đạt mức nhạy của máy thở (sensitivity level)?

Phân tích khí máu động mạch

Mức độ nặng của SHHC ? Đáp ứng bù trừ ?

Cơ chế chính gây SHHC ?

Đánh giá BN về tổng trạng, về cơ quan hô hấp, về khí máu động mạch nhằm phân loại nhóm SHHC cần TKCH và thực hiện các bước TKCH tiếp theo.

Chọn máy thở, phương thức máy thở

Việc lựa chọn tùy thuộc

Tình trạng của BN: loại SHHC (tổn thương phổi hay suy bơm?), bệnh nền sẵn có?, khả năng tự thở và mức nhạy trigger đạt được?.

Mục tiêu sinh lý cần đạt được khi tiến hành TKCH cho BN.

Trang bị sẵn có và kinh nghiệm của thầy thuốc?

Chọn máy thở

Nên chọn máy thở đơn giản cho nhóm SHHC không có tổn thương phổi.

Nên chọn máy thở hiện đại cho các nhóm SHHC khác, nhất là nhóm nhóm đợt cấp của bệnh suy hô hấp mạn, cai máy khó khăn…

Chọn phương thức thở máy

Phần lớn các trường hợp nên khởi đầu TKCH với phương thức (PT) A/C về thể tích, khi BN ổn định hơn (trigger được máy thở, không có rối loạn huyết động) thì nên chuyển sang PT SIMV hoặc PSV nhằm làm giảm chống máy và tạo điều kiện thuận lợi cho thôi thở máy sau này.

Chỉ nên chọn PT A/C về áp lực cho nhóm SHHC có tổn thương phổi khi áp lực đỉnh đường thở (PIP) > 40 cmH2O hay áp lực bình nguyên (Pplat) > 35 cmH2O.

Các PT đặc biệt khác thường được chọn để cai máy hoặc có chỉ định riêng.

Cài đặt bước đầu các thông số

Phải được cân nhắc thận trọng dựa vào:

Mục tiêu cụ thể cần đạt được khi cho BN thở máy,

Loại máy thở được dùng và

Phương thức TKCH mà ta đã chọn.

Sử dụng phương thức định hướng thể tích

Thể tích khí được đưa vào phổi trong một phút còn gọi là thể tích thông khí phút (Minute Volume, Minute Vetilation - VE) bằng tích số của thể tích khí đưa vào phổi trong một nhịp thở hay còn thể tích khí lưu thông (Tiđal Volume - VT) với tần số máy thở đưa khí vào phổi trong 01 phút (ventilator frequency - f) theo công thức sau: VE   VT   f

Do vậy khi dùng PT thở thể tích, cần cài đặt 2 trong 3 thông số của công thức đó.

Thông khí phút

Thường được tính theo công thức (lít/phút):

VE     x BSA* (nam) hoặc VE=  3,5  x BSA*  (nữ).

(*) BSA: Body Surface Area – diện tích da cơ thể (m2)

VE tính được phải được cộng thêm nếu BN có các tình trạng sau:

Sốt: + 9% /1oC.

Toan chuyển hóa: + 20% / -0,1pH.

Stress: 50% - 100% nếu có bỏng rộng, đa chấn thương…

Thể tích khí lưu thông

Thường được tính theo công thức: VT = 5 – 15 ml/ IBW*

(*) Ideal Body Weight – trọng lượng cơ thể lý tưởng(kg).

Chọn VT = 5 – 8 ml/ kg cho nhóm SHHC có tổn thương phổi, hoặc khi có auto-PEEP đáng kể.

Chọn VT = 10 – 15 ml/kg cho nhóm SHHC không có tổn thương phổi.

Nên chọn VT sao cho Pplat tạo ra luôn thấp hơn 30 cmH2O.

Chú ý: Phải tính đến thể tích khí bị nén (Compressible Volume) và thể tích khoảng chết cơ học (Mechanical Dead Space) đặc biệt trong các trường hợp chọn VT thấp hoặc thở máy ở trẻ em.

Tần số máy (lít/phút)

Thường được tính theo công thức:

F = VE / VT hoặc

F =  Flow x TI 

Trong đó:

Flow là tốc độ dòng khí được đưa vào phổi (lít/phút)

TI  là thời gian thở vào (phút)

Có thể ước lượng tùy theo tuổi:

Sơ sinh: 30 – 50 lần/phút.

Trẻ lớn: 20 – 30 lần/phút.

Người lớn: 8 – 20 lần/phút.

Có thể ước lượng theo bệnh sinh:

Bệnh phổi tắc nghẽn: 8 – 12 lần/phút.

Bệnh phổi hạn chế: 16 – 20 lần/phút.

Phổi bình thường: 12 – 16 lần/phút.

Tốc độ dòng khí

Tốc độ dòng khí  thở vào (Flow Rate, Peak  Flow –  Lưu lượng đỉnh) là lưu lượng khí đo được trong lúc thở vào, một thông số thường cần được cài đặt trên các máy thở có nguồn gốc Hoa Kỳ.

Có thể được tính theo công thức sau:

Flow   VT / TI   (VT)  (f)  (TI+TE) / TI

Trong đó:

Flow   tốc độ dòng khí thở vào (Lít/phút).

VT = thể tích khí lưu thông (Lít).

TI  = thời gian thở vào (phút).

 F  = tần số máy (lần/phút).

T E = thời gian thở ra.

Có thể ước lượng bằng 4 đến 6 lần thể tích thông khí phút để đảm bảo đủ nhu cầu thở vào của BN.

Dạng sóng của dòng khí (Flow waveforms)

Có 3 dạng là dạng dốc thoải (Ramp) tăng dần (Ascending) hoặc giảm dần (Descending), dạng hình vuông (Rectangular) và dạng hình sin (Sinusoidal). Mỗi dạng sóng của dòng khí có tác dụng sinh lý khác nhau:

Áp lực trung bình sẽ cao nhất với dạng giảm dần và thấp nhất với dạng hình sin, tăng dần, hình vuông.

Áp lực đỉnh sẽ thấp nhất với dạng giảm dần và cao nhất với dạng hình sin, tăng dần, hình vuông.

Dạng giảm dần có thể làm cải thiện sự oxy hóa và thông khí do cải thiện sự phân phối khí, có trong PT PCV, PSV, thường được chọn.

Khi sử dụng phương thức định hướng áp lực

Áp lực thở vào (Inspiratory Pressure)

Thường chọn từ 12 – 30 cmH2O.

12 - 20 CmH2O cho SHHC có phổi bình thường.

20 - 30 CmH2O cho SHHC có tổn thương phổi.

Không vượt quá 40 cmH2O trong mọi trường hợp.

Tốt nhất chọn mức áp lực sao cho VT thở ra xấp xỉ mức VT dự tính, hoặc nhìn thấy lồng ngực di động tốt, cân đối và nghe phế âm đều cả hai bên.

Các thông số khác

Áp lực dương cuối thì thở ra (Positive End Expiratory Pressure - PEEP)

Chỉ định:

Khi bắt đầu thở máy ở hầu hết các trường hợp, nên cài đặt PEEP = 5 cmH2O  nhằm mục đích dự phòng xẹp phổi trừ trường hợp đang có tăng áp lực nội sọ nghiêm trọng và đang trong tình trạng sốc – trụy tim mạch.

Khi có tình trạng giảm oxy hóa máu đáng kể (PaO2/ FiO2 300), cần thiết phải chọn mức PEEP tối ưu (mức PEEP tạo nên hiệu quả oxy hóa máu tốt nhất mà không gây rối loạn huyết động và căng phổi quá mức) sao cho PaO2 = 60 – 70 mmHg với FiO2 0,4 hoặc PaO2/FiO2 300.

Trong các bệnh phổi tắc nghẽn (COPD, Hen PQ) có auto-PEEP cao ( >8 cmH2O) cần phải cài đặt PEEP với mức  85% auto-PEEP, nhằm chống auto-PEEP bằng cách nong mở đường thở và giảm công thở.

Cách chọn PEEP tối ưu:

Trên các máy thở hiện đại có màn hình thể hiện các dạng biểu đồ vòng (loops) biểu diễn tương quan giữa thể tích khí được đẩy vào phổi với áp lực tạo ra trên đường thở (Loops P – V) cho phép chọn mức PEEP tối ưu một cách chính xác nhờ xác định “điểm uốn thấp – lower inflection point ” (PEEPopt = Pinfl + 2).

Khi không có màn hình hiển thị biểu đồ vòng P – V thì phải tăng dần PEEP mỗi 30 phút/lần, mỗi lần từ 2 đến 3 cmH2O cho đến khi đạt mục Tiêu oxy hóa máu mà không gây rối loạn huyết động (thường từ 8 đến 12 cmH2O).

Chú ý:

Nếu vừa có rối loạn huyết động vừa có giảm oxy hóa máu nghiêm trọng (PaO2/FiO2 <200) thì cần thiết phải truyền dịch, dùng thuốc vận mạch để giữ  HA ở mức chấp nhận được cho phép sử dụng PEEP.

Nếu vừa có tăng áp lực nội sọ vừa có giảm oxy hóa máu nghiêm trọng (PaO2/FiO2 <200) thì vẫn phải dùng PEEP tối ưu đồng thời với tất cả các biện pháp giảm áp lực nội sọ tích cực khác.

Tỉ lệ I/E

Thường chọn I/E =  1/2.

Chọn I/E = 1/3 – 1/4 nếu có tắc nghẽn hoặc auto-PEEP.

Chọn I/E đảo ngược (inverse) trong PT kiểm soát áp lực (PCV) khi có giảm oxy hóa máu nghiêm trọng không đáp ứng với PEEP.

FiO2 (Nồng độ oxy trong khí thở vào)

Thường chọn 100% lúc khởi đầu rồi giảm dần tới mức thấp nhất có hiệu quả,

Không nên dùng FiO2 =100% quá 2 giờ liên tục, FiO2 > 60% quá 24 giờ.

Mức nhậy trigger

Mức ngưỡng để BN cần vượt qua để khởi động (trigger) máy thở.

Có ba loại trigger để chọn:

Trigger dòng có thể đặt ở mức 2 - 4 lít/phút, chỉ có ở máy thở hiện đại

Trigger áp lực thường chọn từ –1 đến –2 cmH2O hoặc dưới mức PEEP 1 – 2 cmH2O.

Trigger Timer (thời gian) được dùng trong các PTTKCH kiểm soát (thông qua điều chỉnh tần số máy).

Thở dài (Sigh)

Dùng khi đặt VT thấp (8ml/kg) hoặc khi thở máy kéo dài, nhằm tránh xẹp phổi.

Đặt các giới hạn báo động

Nếu vượt quá trị số này sẽ có báo động (bằng âm thanh chói tai, đèn nhấp nháy)

Về áp lực thở vào

Thường dành cho các PT thể tích.

Giới hạn trên: còn gọi là áp lực an toàn, nên đặt ở mức lớn hơn áp lực đỉnh (PIP) đọc được trên đồng hồ đo áp lực của máy khoảng 5 –10 cmH2O, nhưng  50 cmH2O, khi vượt quá sẽ có báo động, đồng thời tự động mở van xả.

Giới hạn dưới: còn gọi là áp lực tối thiểu, nên đặt thấp hơn PIP khoảng 10 cmH2O, nhưng 5 cmH2O để phát hiện hở đường dẫn khí, hoặc tuột máy.

 Về thể tích phút thở ra

Thường dành cho các PT áp lực.

Giới hạn trên và dưới nên đặt ở mức  15% so với VE thở ra,

Nếu có SIGH thì giới hạn trên + 25%.

Về giới hạn FiO2 

Thường được dùng đến trong các bệnh phổi mạn

Giới hạn tối thiểu (Min), tối đa (Max) là mục tiêu sinh lý cần đạt được, thường là 88 % - 92 % .

Về các sự cố

Thường được nhà chế tạo thiết kế sẵn, cần kiểm tra trước khi cho Bn thở máy

Ngưng thở (chỉ có ở các PT hỗ trợ),

Mất nguồn điện,

Mất nguồn khí nén, oxy …

Theo dõi bệnh nhân trong quá trình thở máy

Mục đích

Đánh giá sự đáp ứng với điều trị, quá trình tiến triển của BN.

Phát hiện kịp thời các biến chứng để xử trí.

Khí máu động mạch

Nên đặt catheter ĐM trong các trường hợp nặng.

Nên làm liên tục 30’/lần, khi ổn định 2 lần/ngày.

Theo dõi O2, EtCO2 không xâm lấn

Ưu điểm chủ yếu là tiện lợi.

Nhược điểm chính là độ tin cậy không cao.

Các yếu tố cơ học của hệ thống hô hấp

Nhằm mục đích:

Phát hiện kịp thời những trục trặc của máy thở.

Phát hiện những thay đổi về tình trạng của bệnh và

Hướng dẫn điều chỉnh cài đặt, lựa chọn lại phương thức thở cho phù hợp,

Xác định tiêu chuẩn ngưng và cai máy thở.

Độ giãn nở hệ thống hô hấp (compliance)

Giảm sút trong các bệnh về nhu mô phổi: ARDS, ALI, Viêm phổi…

Phục hồi hay cải thiện tương xứng với mức độ cải thiện của bệnh.

Sức cản đường thở:

Tăng trong các bệnh phổi tắc nghẽn: COPD, hen PQ, tắc đờm…

Cải thiện tương xứng với mức độ cải thiện của bệnh.

Auto-PEEP: cần theo dõi chặt trong các bệnh phổi tắc nghẽn, có thở nhanh, tăng áp lực nội sọ, sốc - trụy mạch… (đo bằng phương pháp bịt cuối thở ra).

Quan sát biểu đồ: đơn (P, F, V), vòng (Loop P – V, P – F) cung cấp rất nhiều thông tin có ích cho trong quá trình thở máy

Khi cai máy: P01, RSB index.

Huyết động

Đo trực tiếp: Áp lực TM trung tâm, HA ĐM qua catheter, áp lực ĐM phổi bít (nếu có thể),...trong những trường hợp nặng.

Đo gián tiếp: HA ĐM cánh tay (bao hơi), tần số tim,…

Mức gắng sức và sự đồng bộ

Ap lực hít vào tối đa.

Sự hài hòa, đồng bộ giữa máy và BN.

Chăm sóc bệnh nhân thở máy

Đường thở

Chọn NKQ qua miệng hay mũi và mức áp lực trong bóng chèn.

Cố định ống đúng phương pháp.

Hút đờm, tư thế và khí dung

Hút đờm đúng kỹ thuật, hạn chế biến chứng.

Đặt BN ở tư thế Fowler.

Nội soi phế quản khi cần.

Dùng khí dung.

Dinh dưỡng

Đánh giá về dinh dưỡng.

Tính toán nhu cầu năng lượng của Bn

Tiến hành nuôi dưỡng BN.

Sử dụng thuốc an thần, giảm đau, giãn cơ

Chống máy cần phải được phát hiện kịp thời và điều trị một cách hệ thống (…), xử trí nguyên nhân nếu có thể (do BN, do máy).

Sử dụng thuốc an thần, giảm đau ít tác dụng phụ trên huyết động,…

Chỉ sử dụng thuốc giãn cơ để cải thiện tình trạng chống máy sau khi đã xử trí nguyên nhân hoặc trong trường hợp đặc biệt (PT PCV với đảo ngược tỉ lệ I/E, vật vã quá nhiều do CT sọ não…)

Điều chỉnh các thông số

Theo đáp ứng lâm sàng

Trong các trường hợp khẩn cấp, nguy kịch cần hồi sinh thì không nên chờ kết quả khí máu động mạch.

Trong điều kiện trang thiết bị không cho phép.

Chủ yếu dựa vào các dấu hiệu sinh tồn, dấu tưới máu ngoại vi... nên không chính xác, khách quan, có thể sai lầm.

Theo kết quả khí máu động mạch

Kết hợp chặt chẽ với lâm sàng, XQ và đặc biệt là khí máu động mạch để điều chỉnh máy thở hiệu quả nhất.

Cần xác định mục tiêu cụ thể cho mỗi BN để điều chỉnh phù hợp, điều chỉnh thông số gây nguy hiểm cho BN trước, không nên điều chỉnh nhiều thông số cùng một lúc.

Đối với PaCO2 có thể theo công thức sau:

            VE  PaCO2   VE' x PaCO2'

            VT x f  PaCO2  = VT' x f'   PaCO2' (nên tăng VT trước)

Đối với PaO2: PaO2 / FiO2   PaO2'/ FiO2'  (khi PaO2/FiO2300)

Thôi thở máy hoặc cai thở máy đúng lúc

Thôi thở máy (discontinuation)

BN tự mình hồi phục hô hấp tự nhiên khi BN không cần TKCH nữa.

Có thể dễ thực hiện ở các BN thở máy dưới 1 tuần.

Cai thở máy (weaning)

Là quá trình tách bỏ dần dần sự phụ thuộc máy thở ở BN đã quen thở máy.

Tiêu chuẩn cai thở máy

Nguyên nhân SHHC đã được giải quyết.

Tỉnh táo, không sốt, tim mạch ổn định.

Dinh dưỡng, nước điện giải bình thường.

PaO2 < 60mmHg với FiO2 < 0,5 và PEEP < 5 cmH2O.

P01 < 5 cmH2O, RSB index < 100

Các biện pháp cai thở máy

Tự thở ngắt quãng, tăng dần thời gian thở tự nhiên.

Sử dụng ống T với FiO2 giảm dần.

Sử dụng các PT TKCH : CPAV, SIMV, PSV,…

Sử dụng TKCH áp lực dương không xâm nhập.

Thu dọn và vệ sinh máy

Nên chuẩn bị máy thở sẵn sàng dùng được ngay.

Nên có nhiều bộ ống thở sạch sẵn sàng, chỉ cần thay ống là có thể dùng cho BN khác.

Khi vệ sinh máy cần chú ý tuân thủ nghiêm ngặt qui trình của nhà chế tạo.

Tiến hành thông khí cơ học (TKCH) là công việc hàng ngày của bác sĩ HSCC. Khi có chỉ định TKCH (thở máy) cần tiến hành lần lượt các bước như sau:

Đánh giá bệnh nhân

Tổng trạng

APACHE II (Acute Physiology And Chronic Health Evaluation).

Tiền sử bệnh.

Cơ quan hô hấp

Có hay không có tổn thương tại phổi?

Ngưng thở hoàn toàn hay còn tự thở ? Tự thở đạt mức nhạy của máy thở (sensitivity level)?

Phân tích khí máu động mạch

Mức độ nặng của SHHC ? Đáp ứng bù trừ ?

Cơ chế chính gây SHHC ?

Đánh giá BN về tổng trạng, về cơ quan hô hấp, về khí máu động mạch nhằm phân loại nhóm SHHC cần TKCH và thực hiện các bước TKCH tiếp theo.

Chọn máy thở, phương thức máy thở

Việc lựa chọn tùy thuộc

Tình trạng của BN: loại SHHC (tổn thương phổi hay suy bơm?), bệnh nền sẵn có?, khả năng tự thở và mức nhạy trigger đạt được?.

Mục tiêu sinh lý cần đạt được khi tiến hành TKCH cho BN.

Trang bị sẵn có và kinh nghiệm của thầy thuốc?

Chọn máy thở

Nên chọn máy thở đơn giản cho nhóm SHHC không có tổn thương phổi.

Nên chọn máy thở hiện đại cho các nhóm SHHC khác, nhất là nhóm nhóm đợt cấp của bệnh suy hô hấp mạn, cai máy khó khăn…

Chọn phương thức thở máy

Phần lớn các trường hợp nên khởi đầu TKCH với phương thức (PT) A/C về thể tích, khi BN ổn định hơn (trigger được máy thở, không có rối loạn huyết động) thì nên chuyển sang PT SIMV hoặc PSV nhằm làm giảm chống máy và tạo điều kiện thuận lợi cho thôi thở máy sau này.

Chỉ nên chọn PT A/C về áp lực cho nhóm SHHC có tổn thương phổi khi áp lực đỉnh đường thở (PIP) > 40 cmH2O hay áp lực bình nguyên (Pplat) > 35 cmH2O.

Các PT đặc biệt khác thường được chọn để cai máy hoặc có chỉ định riêng.

Cài đặt bước đầu các thông số

Phải được cân nhắc thận trọng dựa vào:

Mục tiêu cụ thể cần đạt được khi cho BN thở máy,

Loại máy thở được dùng và

Phương thức TKCH mà ta đã chọn.

Sử dụng phương thức định hướng thể tích

Thể tích khí được đưa vào phổi trong một phút còn gọi là thể tích thông khí phút (Minute Volume, Minute Vetilation - VE) bằng tích số của thể tích khí đưa vào phổi trong một nhịp thở hay còn thể tích khí lưu thông (Tiđal Volume - VT) với tần số máy thở đưa khí vào phổi trong 01 phút (ventilator frequency - f) theo công thức sau: VE   VT   f

Do vậy khi dùng PT thở thể tích, cần cài đặt 2 trong 3 thông số của công thức đó.

Thông khí phút

Thường được tính theo công thức (lít/phút):

VE     x BSA* (nam) hoặc VE=  3,5  x BSA*  (nữ).

(*) BSA: Body Surface Area – diện tích da cơ thể (m2)

VE tính được phải được cộng thêm nếu BN có các tình trạng sau:

Sốt: + 9% /1oC.

Toan chuyển hóa: + 20% / -0,1pH.

Stress: 50% - 100% nếu có bỏng rộng, đa chấn thương…

Thể tích khí lưu thông

Thường được tính theo công thức: VT = 5 – 15 ml/ IBW*

(*) Ideal Body Weight – trọng lượng cơ thể lý tưởng(kg).

Chọn VT = 5 – 8 ml/ kg cho nhóm SHHC có tổn thương phổi, hoặc khi có auto-PEEP đáng kể.

Chọn VT = 10 – 15 ml/kg cho nhóm SHHC không có tổn thương phổi.

Nên chọn VT sao cho Pplat tạo ra luôn thấp hơn 30 cmH2O.

Chú ý: Phải tính đến thể tích khí bị nén (Compressible Volume) và thể tích khoảng chết cơ học (Mechanical Dead Space) đặc biệt trong các trường hợp chọn VT thấp hoặc thở máy ở trẻ em.

Tần số máy (lít/phút)

Thường được tính theo công thức:

F = VE / VT hoặc

F =  Flow x TI 

Trong đó:

Flow là tốc độ dòng khí được đưa vào phổi (lít/phút)

TI  là thời gian thở vào (phút)

Có thể ước lượng tùy theo tuổi:

Sơ sinh: 30 – 50 lần/phút.

Trẻ lớn: 20 – 30 lần/phút.

Người lớn: 8 – 20 lần/phút.

Có thể ước lượng theo bệnh sinh:

Bệnh phổi tắc nghẽn: 8 – 12 lần/phút.

Bệnh phổi hạn chế: 16 – 20 lần/phút.

Phổi bình thường: 12 – 16 lần/phút.

Tốc độ dòng khí

Tốc độ dòng khí  thở vào (Flow Rate, Peak  Flow –  Lưu lượng đỉnh) là lưu lượng khí đo được trong lúc thở vào, một thông số thường cần được cài đặt trên các máy thở có nguồn gốc Hoa Kỳ.

Có thể được tính theo công thức sau:

Flow   VT / TI   (VT)  (f)  (TI+TE) / TI

Trong đó:

Flow   tốc độ dòng khí thở vào (Lít/phút).

VT = thể tích khí lưu thông (Lít).

TI  = thời gian thở vào (phút).

 F  = tần số máy (lần/phút).

T E = thời gian thở ra.

Có thể ước lượng bằng 4 đến 6 lần thể tích thông khí phút để đảm bảo đủ nhu cầu thở vào của BN.

Dạng sóng của dòng khí (Flow waveforms)

Có 3 dạng là dạng dốc thoải (Ramp) tăng dần (Ascending) hoặc giảm dần (Descending), dạng hình vuông (Rectangular) và dạng hình sin (Sinusoidal). Mỗi dạng sóng của dòng khí có tác dụng sinh lý khác nhau:

Áp lực trung bình sẽ cao nhất với dạng giảm dần và thấp nhất với dạng hình sin, tăng dần, hình vuông.

Áp lực đỉnh sẽ thấp nhất với dạng giảm dần và cao nhất với dạng hình sin, tăng dần, hình vuông.

Dạng giảm dần có thể làm cải thiện sự oxy hóa và thông khí do cải thiện sự phân phối khí, có trong PT PCV, PSV, thường được chọn.

Khi sử dụng phương thức định hướng áp lực

Áp lực thở vào (Inspiratory Pressure)

Thường chọn từ 12 – 30 cmH2O.

12 - 20 CmH2O cho SHHC có phổi bình thường.

20 - 30 CmH2O cho SHHC có tổn thương phổi.

Không vượt quá 40 cmH2O trong mọi trường hợp.

Tốt nhất chọn mức áp lực sao cho VT thở ra xấp xỉ mức VT dự tính, hoặc nhìn thấy lồng ngực di động tốt, cân đối và nghe phế âm đều cả hai bên.

Các thông số khác

Áp lực dương cuối thì thở ra (Positive End Expiratory Pressure - PEEP)

Chỉ định:

Khi bắt đầu thở máy ở hầu hết các trường hợp, nên cài đặt PEEP = 5 cmH2O  nhằm mục đích dự phòng xẹp phổi trừ trường hợp đang có tăng áp lực nội sọ nghiêm trọng và đang trong tình trạng sốc – trụy tim mạch.

Khi có tình trạng giảm oxy hóa máu đáng kể (PaO2/ FiO2 300), cần thiết phải chọn mức PEEP tối ưu (mức PEEP tạo nên hiệu quả oxy hóa máu tốt nhất mà không gây rối loạn huyết động và căng phổi quá mức) sao cho PaO2 = 60 – 70 mmHg với FiO2 0,4 hoặc PaO2/FiO2 300.

Trong các bệnh phổi tắc nghẽn (COPD, Hen PQ) có auto-PEEP cao ( >8 cmH2O) cần phải cài đặt PEEP với mức  85% auto-PEEP, nhằm chống auto-PEEP bằng cách nong mở đường thở và giảm công thở.

Cách chọn PEEP tối ưu:

Trên các máy thở hiện đại có màn hình thể hiện các dạng biểu đồ vòng (loops) biểu diễn tương quan giữa thể tích khí được đẩy vào phổi với áp lực tạo ra trên đường thở (Loops P – V) cho phép chọn mức PEEP tối ưu một cách chính xác nhờ xác định “điểm uốn thấp – lower inflection point ” (PEEPopt = Pinfl + 2).

Khi không có màn hình hiển thị biểu đồ vòng P – V thì phải tăng dần PEEP mỗi 30 phút/lần, mỗi lần từ 2 đến 3 cmH2O cho đến khi đạt mục Tiêu oxy hóa máu mà không gây rối loạn huyết động (thường từ 8 đến 12 cmH2O).

Chú ý:

Nếu vừa có rối loạn huyết động vừa có giảm oxy hóa máu nghiêm trọng (PaO2/FiO2 <200) thì cần thiết phải truyền dịch, dùng thuốc vận mạch để giữ  HA ở mức chấp nhận được cho phép sử dụng PEEP.

Nếu vừa có tăng áp lực nội sọ vừa có giảm oxy hóa máu nghiêm trọng (PaO2/FiO2 <200) thì vẫn phải dùng PEEP tối ưu đồng thời với tất cả các biện pháp giảm áp lực nội sọ tích cực khác.

Tỉ lệ I/E

Thường chọn I/E =  1/2.

Chọn I/E = 1/3 – 1/4 nếu có tắc nghẽn hoặc auto-PEEP.

Chọn I/E đảo ngược (inverse) trong PT kiểm soát áp lực (PCV) khi có giảm oxy hóa máu nghiêm trọng không đáp ứng với PEEP.

FiO2 (Nồng độ oxy trong khí thở vào)

Thường chọn 100% lúc khởi đầu rồi giảm dần tới mức thấp nhất có hiệu quả,

Không nên dùng FiO2 =100% quá 2 giờ liên tục, FiO2 > 60% quá 24 giờ.

Mức nhậy trigger

Mức ngưỡng để BN cần vượt qua để khởi động (trigger) máy thở.

Có ba loại trigger để chọn:

Trigger dòng có thể đặt ở mức 2 - 4 lít/phút, chỉ có ở máy thở hiện đại

Trigger áp lực thường chọn từ –1 đến –2 cmH2O hoặc dưới mức PEEP 1 – 2 cmH2O.

Trigger Timer (thời gian) được dùng trong các PTTKCH kiểm soát (thông qua điều chỉnh tần số máy).

Thở dài (Sigh)

Dùng khi đặt VT thấp (8ml/kg) hoặc khi thở máy kéo dài, nhằm tránh xẹp phổi.

Đặt các giới hạn báo động

Nếu vượt quá trị số này sẽ có báo động (bằng âm thanh chói tai, đèn nhấp nháy)

Về áp lực thở vào

Thường dành cho các PT thể tích.

Giới hạn trên: còn gọi là áp lực an toàn, nên đặt ở mức lớn hơn áp lực đỉnh (PIP) đọc được trên đồng hồ đo áp lực của máy khoảng 5 –10 cmH2O, nhưng  50 cmH2O, khi vượt quá sẽ có báo động, đồng thời tự động mở van xả.

Giới hạn dưới: còn gọi là áp lực tối thiểu, nên đặt thấp hơn PIP khoảng 10 cmH2O, nhưng 5 cmH2O để phát hiện hở đường dẫn khí, hoặc tuột máy.

 Về thể tích phút thở ra

Thường dành cho các PT áp lực.

Giới hạn trên và dưới nên đặt ở mức  15% so với VE thở ra,

Nếu có SIGH thì giới hạn trên + 25%.

Về giới hạn FiO2 

Thường được dùng đến trong các bệnh phổi mạn

Giới hạn tối thiểu (Min), tối đa (Max) là mục tiêu sinh lý cần đạt được, thường là 88 % - 92 % .

Về các sự cố

Thường được nhà chế tạo thiết kế sẵn, cần kiểm tra trước khi cho Bn thở máy

Ngưng thở (chỉ có ở các PT hỗ trợ),

Mất nguồn điện,

Mất nguồn khí nén, oxy …

Theo dõi bệnh nhân trong quá trình thở máy

Mục đích

Đánh giá sự đáp ứng với điều trị, quá trình tiến triển của BN.

Phát hiện kịp thời các biến chứng để xử trí.

Khí máu động mạch

Nên đặt catheter ĐM trong các trường hợp nặng.

Nên làm liên tục 30’/lần, khi ổn định 2 lần/ngày.

Theo dõi O2, EtCO2 không xâm lấn

Ưu điểm chủ yếu là tiện lợi.

Nhược điểm chính là độ tin cậy không cao.

Các yếu tố cơ học của hệ thống hô hấp

Nhằm mục đích:

Phát hiện kịp thời những trục trặc của máy thở.

Phát hiện những thay đổi về tình trạng của bệnh và

Hướng dẫn điều chỉnh cài đặt, lựa chọn lại phương thức thở cho phù hợp,

Xác định tiêu chuẩn ngưng và cai máy thở.

Độ giãn nở hệ thống hô hấp (compliance)

Giảm sút trong các bệnh về nhu mô phổi: ARDS, ALI, Viêm phổi…

Phục hồi hay cải thiện tương xứng với mức độ cải thiện của bệnh.

Sức cản đường thở:

Tăng trong các bệnh phổi tắc nghẽn: COPD, hen PQ, tắc đờm…

Cải thiện tương xứng với mức độ cải thiện của bệnh.

Auto-PEEP: cần theo dõi chặt trong các bệnh phổi tắc nghẽn, có thở nhanh, tăng áp lực nội sọ, sốc - trụy mạch… (đo bằng phương pháp bịt cuối thở ra).

Quan sát biểu đồ: đơn (P, F, V), vòng (Loop P – V, P – F) cung cấp rất nhiều thông tin có ích cho trong quá trình thở máy

Khi cai máy: P01, RSB index.

Huyết động

Đo trực tiếp: Áp lực TM trung tâm, HA ĐM qua catheter, áp lực ĐM phổi bít (nếu có thể),...trong những trường hợp nặng.

Đo gián tiếp: HA ĐM cánh tay (bao hơi), tần số tim,…

Mức gắng sức và sự đồng bộ

Ap lực hít vào tối đa.

Sự hài hòa, đồng bộ giữa máy và BN.

Chăm sóc bệnh nhân thở máy

Đường thở

Chọn NKQ qua miệng hay mũi và mức áp lực trong bóng chèn.

Cố định ống đúng phương pháp.

Hút đờm, tư thế và khí dung

Hút đờm đúng kỹ thuật, hạn chế biến chứng.

Đặt BN ở tư thế Fowler.

Nội soi phế quản khi cần.

Dùng khí dung.

Dinh dưỡng

Đánh giá về dinh dưỡng.

Tính toán nhu cầu năng lượng của Bn

Tiến hành nuôi dưỡng BN.

Sử dụng thuốc an thần, giảm đau, giãn cơ

Chống máy cần phải được phát hiện kịp thời và điều trị một cách hệ thống (…), xử trí nguyên nhân nếu có thể (do BN, do máy).

Sử dụng thuốc an thần, giảm đau ít tác dụng phụ trên huyết động,…

Chỉ sử dụng thuốc giãn cơ để cải thiện tình trạng chống máy sau khi đã xử trí nguyên nhân hoặc trong trường hợp đặc biệt (PT PCV với đảo ngược tỉ lệ I/E, vật vã quá nhiều do CT sọ não…)

Điều chỉnh các thông số

Theo đáp ứng lâm sàng

Trong các trường hợp khẩn cấp, nguy kịch cần hồi sinh thì không nên chờ kết quả khí máu động mạch.

Trong điều kiện trang thiết bị không cho phép.

Chủ yếu dựa vào các dấu hiệu sinh tồn, dấu tưới máu ngoại vi... nên không chính xác, khách quan, có thể sai lầm.

Theo kết quả khí máu động mạch

Kết hợp chặt chẽ với lâm sàng, XQ và đặc biệt là khí máu động mạch để điều chỉnh máy thở hiệu quả nhất.

Cần xác định mục tiêu cụ thể cho mỗi BN để điều chỉnh phù hợp, điều chỉnh thông số gây nguy hiểm cho BN trước, không nên điều chỉnh nhiều thông số cùng một lúc.

Đối với PaCO2 có thể theo công thức sau:

            VE  PaCO2   VE' x PaCO2'

            VT x f  PaCO2  = VT' x f'   PaCO2' (nên tăng VT trước)

Đối với PaO2: PaO2 / FiO2   PaO2'/ FiO2'  (khi PaO2/FiO2300)

Thôi thở máy hoặc cai thở máy đúng lúc

Thôi thở máy (discontinuation)

BN tự mình hồi phục hô hấp tự nhiên khi BN không cần TKCH nữa.

Có thể dễ thực hiện ở các BN thở máy dưới 1 tuần.

Cai thở máy (weaning)

Là quá trình tách bỏ dần dần sự phụ thuộc máy thở ở BN đã quen thở máy.

Tiêu chuẩn cai thở máy

Nguyên nhân SHHC đã được giải quyết.

Tỉnh táo, không sốt, tim mạch ổn định.

Dinh dưỡng, nước điện giải bình thường.

PaO2 < 60mmHg với FiO2 < 0,5 và PEEP < 5 cmH2O.

P01 < 5 cmH2O, RSB index < 100

Các biện pháp cai thở máy

Tự thở ngắt quãng, tăng dần thời gian thở tự nhiên.

Sử dụng ống T với FiO2 giảm dần.

Sử dụng các PT TKCH : CPAV, SIMV, PSV,…

Sử dụng TKCH áp lực dương không xâm nhập.

Thu dọn và vệ sinh máy

Nên chuẩn bị máy thở sẵn sàng dùng được ngay.

Nên có nhiều bộ ống thở sạch sẵn sàng, chỉ cần thay ống là có thể dùng cho BN khác.

Khi vệ sinh máy cần chú ý tuân thủ nghiêm ngặt qui trình của nhà chế tạo.

 


Bài xem nhiều nhất

CÁCH NÀO LÀM GIẢM NGỨA HỌNG VÀ HO HIỆU QUẢ?

Ngứa rát họng thường là kích thích đầu tiên tại cổ họng, có thể làm phát sinh triệu chứng tiếp theo là ho. Để ngăn chặn cơn ho xuất hiện, thì ngay khi có dấu hiệu ngứa họng, phải có biện pháp nhanh chóng làm dịu kích thích này.

LÀM DỊU HỌNG NGAY KHI BỊ NGỨA HỌNG

Ngứa họng là triệu chứng kích thích ở họng, xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau. Có thể thấy ngứa họng xuất hiện trong các bệnh lý viêm đường hô hấp như: viêm họng, viêm khí phế quản, viêm mũi xoang...

GIẢM NGỨA HỌNG VÀ HO DO THỜI TIẾT

Vùng họng là nơi nhạy cảm, dễ bị kích thích bên ngoài tác động. Hiện tượng kích ứng vùng họng hay gặp nhất là ngứa họng, ho, khản tiếng...Ngứa họng là cảm giác khó chịu đầu tiên tại vùng họng khi có kích thích.

Ngừng tuần hoàn

Mục đích của hồi sinh tim - phổi là cung cấp tạm thời tuần hoàn và hô hấp nhân tạo, qua đó tạo điều kiện phục hồi tuần hoàn và hô hấp tự nhiên có hiệu qủa.

Cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất

Cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất ( gọi tắt là tim nhanh trên thất - TNTT ) là một thuật ngữ rộng bao hàm nhiều loại rối loạn nhịp nhanh có cơ chế và nguồn gốc khác nhau.

Thăm dò thông khí phổi và khí máu động mạch

Đánh giá chức năng phổi của bệnh nhân trước khi mổ phổi (Ung thư phế quản, áp xe phổi, giãn phế quản, các can thiệp tim mạch, ổ bụng).

Sử dụng hiệu quả insulin điều trị đái tháo đường

Tất cả các bệnh nhân ĐTĐ có thể trở nên cần điều trị bằng insulin một cách tạm thời hoặc vĩnh viễn khi tụy không tiết đủ lượng insulin cần thiết.

Thở ô xy

Thở oxy hay liệu pháp thở oxy là cho bệnh nhân khí thở vào có nồng độ oxy cao hơn nồng độ oxy khí trời (FiO­­2 > 21%).

Xử trí tăng Kali máu

Các triệu chứng tim mạch: rối loạn nhịp nhanh. ngừng tim; chúng thường xảy ra khi tăng kali máu quá nhanh hoặc tăng kali máu kèm với hạ natri máu, hạ magne máu, hay hạ calci máu.

Đại cương về suy thận mạn tính

Nguyên nhân suy thận mạn tính có nhiều loại khác nhau,thường do một trong số các nguyên nhân bao gồm bệnh cầu thận, bệnh ống kẽ thận, bệnh mạch máu thận, bệnh bẩm sinh và di truyền.

Thông khí nhân tạo và chỉ định (thở máy)

Thông khí nhân tạo có thể thay thế một phần hoặc thay hoàn toàn nhịp tự thở của bệnh nhân.

Quy trình kỹ thuật thở ô xy

Tất cả các bệnh nhân thở Oxy phải làm ẩm khộng khí thở vào để đảm bảo tối ưu chức năng của nhung mao tiết nhầy đường hô hấp, đồng thời đảm bảo độ ấm.

Hội chứng cai rượu cấp

Sau khi ngưng rượu, sự giảm điều hoà receptor hệ GABA tham gia gây ra rất nhiều triệu chứng của hội chứng cai. Ngộ độc rượu mạn cũng ức chế hoạt động dẫn truyền thần kinh glutamate.

Theo dõi và chăm sóc bệnh nhân thở máy

Theo dõi bệnh nhân thở máy cần được theo dõi toàn diện, kết hợp giữa theo dõi các dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng, cũng như theo dõi sát các thông số trên máy thở, trên monitor theo dõi.

Chăm sóc bệnh nhân hôn mê

Hôn mê là tình trạng mất ý thức và mất sự thức tỉnh, không hồi phục lại hoàn toàn khi được kích thích.

Các phác đồ kiểm soát đường huyết trong hồi sức cấp cứu

Tiêm tĩnh mạch insulin loại tác dụng nhanh khi kết quả xét nghiệm đường huyết mao mạch >11 mmol/L. Liều bắt đầu là 5 hoặc 10 đơn vị.

Thấp tim

Thấp tim (thấp khớp cấp) là một bệnh viêm dị ứng xảy ra sau nhiễm liên cầu khuẩn tan huyết β nhóm A gây nên, bệnh tổn thương ở hệ thống tổ chức liên kết theo cơ chế miễn dịch dị ứng, gây tổn thương nhiều cơ quan

Chăm sóc bệnh nhân tai biến mạch não

Tai biến mạch não là dấu hiệu phát triển nhanh chóng trên lâm sàng của một rối loạn khu trú chức năng của não kéo dài trên 24giờ và th­ường do nguyên nhân mạch não.

Sinh lý kinh nguyệt

Kinh nguyệt là hiện tượng chảy máu có tính chất chu kỳ hàng tháng từ tử cung ra ngoài do bong niêm mạc tử cung dưới ảnh hưởng của sự tụt đột ngột Estrogen hoặc Estrogen và Progesteron trong cơ thể.

Block nhánh

Bloc nhánh là 1 hình ảnh điện tâm đồ do những rối loạn dẫn truyền xung động trong các nhánh bó His gây ra.

Chức năng đầy đủ của gan

Gan có nhiều vai trò thiết yếu trong việc giữ cho chúng ta sống.

Hậu sản thường

Sau khi sổ rau, tử cung co chắc thành khối an toàn, trọng lượng tử cung lúc đó nặng khoảng 1.000g, sau 1 tuần, tử cung còn nặng khoảng 500g, cuối tuần lễ thứ 2 còn khoảng 300g, các ngày sau đó nặng 100g.

Hội chứng HELLP

Có thể cho tới 4 -6 g IV bolus / 20 min, truyền TM 1 -3 g/h. Thận trọng nếu suy thận. Với liều khuyến cáo không có nguy hiểm cho mẹ và thai. Hiệu quả tốt hơn dizepam và phenytoin.

Co giật và động kinh

Co giật cũng được phân loại là cục bộ hoặc toàn thân dựa trên mức độ ảnh hưởng lên giải phẫu thần kinh hoặc được phân loại là đơn giản hay phức tạp dựa trên ảnh hưởng của co giật lên tình trạng ý thức.

Quy trình kỹ thuật khí dung thuốc

Khí dung trị liệu có thể được cụng cấp bằng bình phun thể tích nhỏ (SVN Small-Volume-Nebulizer) hoặc ống hít có phân liều (MDI Metered-Dose-Inhaler).

 

Xem theo danh mục